A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

ĐỀ CƯƠNG Tuyên truyền trả lời câu hỏi cuộc thi tìm hiểu “Lịch sử đấu tranh của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Lạng Giang từ năm 1930 đến nay” 

ĐỀ CƯƠNG

Tuyên truyền trả lời câu hỏi cuộc thi tìm hiểu “Lịch sử đấu tranh của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Lạng Giang từ năm 1930 đến nay” 

Câu 1: Tên huyện Lạng Giang có từ khi nào? Từ đó đến nay huyện đã trải qua bao nhiêu lần điều chỉnh về địa giới hành chính? Nêu thời gian, nội dung các lần điều chỉnh đó? Trả lời: Ngày 25/3/1948, Chính phủ ra Sắc lệnh số 148SL quy định bãi bỏ các danh từ phủ, châu, quận cấp trên xã và dưới tỉnh, gọi là cấp huyện, cũng từ đó có tên huyện Lạng Giang.

thành lập tỉnh Lục chính quyền Pháp, 1889 (thị trấn Vôi ngày nay). Năm Chu Nguyên chính là đất Lạng Giang ngày nay và một phần của huyện Lục Nam; trụ sở đặt tại làng Bảo Lộc, cai quản 10 huyện, trong đó có huyệnThượng Hồng, châu Lạng đổi thành phủ Lạng Giang, gồm 02 châu: Châu Lạng Giang và châu 1407. Năm Bắc Giang, được đổi là châu Lạng thuộc lộ thế kỷ 11. Tên Kê Từ tồn tại suốt gần một nghìn năm Bắc thuộc; đến Vũ Ninh ngày nay) nằm trong lộ Lục Ngạn, Lục NamKê Từ (bao gồm địa giới hành chính các huyện Lạng Giang, Từ những ngày đầu triều các vua Hùng, Lạng Giang chưa thành tên gọi. Địa phận của huyện thuộc đất Nam, huyện Bảo Lộc thuộc tỉnh Lục Nam. Ngày 8-9-1891, tỉnh Lục Nam giải thể, huyện Bảo Lộc trả về tỉnh Bắc Ninh.

Dưới triều Thành Thái nhà Nguyễn (1889-1907), huyện Bảo Lộc đổi thành huyện Phất Lộc. Năm 1924, chính quyền Pháp đổi huyện Phất Lộc thành phủ Lạng Giang, gồm 13 tổng: Cần Dinh, Đa Mai, Thọ Xương, Đào Quán, Dĩnh Kế, Thịnh Liệt, Lan Mẫu, Trí Yên, Mỹ Cầu, Phi Mô, Mỹ Thái, Thái Đào, Xuân Đám. Phủ lỵ đặt tại phủ Lạng Thương (phố Tiền Giang, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang ngày nay). Phủ Lạng Giang bao gồm toàn bộ lãnh thổ huyện Lạng Giang ngày nay cùng các xã: Lan Mẫu của huyện Lục Nam; Lão Hộ, Song Khê, Tân Mỹ, Hương Gián, Lãng Sơn, Trí Yên, Đức La, Tam Kỳ, Tân An, Xuân Phú, Tân Tiến của huyện Yên Dũng; Thọ Xương, Dĩnh Kế, Mỹ Độ, Song Mai, Đa Mai của thành phố Bắc Giang ngày nay...

Ngày 25-3-1948, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra Sắc lệnh số 148-SL, bãi bỏ các danh từ, phủ, châu, quận để thống nhất gọi là huyện. Thực hiện Sắc Lệnh của Chủ tịch nước, phủ Lạng Giang gọi là huyện Lạng Giang. Huyện Lạng Giang khi đó có 29 xã: An Hà, Bảo Đài, Bảo Sơn, Đại Lâm, Đào Mỹ, Dĩnh Kế, Dĩnh Trì, Dương Đức, Hòa Bình A, Hương Lạc, Hương Sơn, Mỹ Hà, Mỹ Thái, Nghĩa Hòa, Nghĩa Hưng, Phi Mô, Quang Thịnh, Tam Dị, Tân Dĩnh, Tân Hưng, Tân Lập, Tân Thanh, Tân Thịnh, Thái Đào, Tiên Hưng, Tiên Lục, Xuân Hương, Xương Lâm, Yên Mỹ.

Ngày 21-1-1957 điều chỉnh địa giới tách 6 xã: Hòa Bình A, Tam Dị, Tân Lập, Tiên Hưng, Bảo Đài, Bảo Sơn để thành lập huyện Lục Nam. Huyện còn lại 23 xã: An Hà, Đại Lâm, Đào Mỹ, Dĩnh Kế, Dĩnh Trì, Dương Đức, Hương Lạc, Hương Sơn, Mỹ Hà, Mỹ Thái, Nghĩa Hòa, Nghĩa Hưng, Phi Mô, Quang Thịnh, Tân Dĩnh, Tân Hưng, Tân Thanh, Tân Thịnh, Thái Đào, Tiên Lục, Xuân Hương, Xương Lâm, Yên Mỹ.

Ngày 19/10/1959, thành lập thị trấn Kép trên cơ sở tách đất xã Tân Thịnh.

Ngày 8-3-1967, thành lập thị trấn nông trường Cam Bố Hạ.

Ngày 3-5-1985 điều chỉnh địa giới hành chính xã Dĩnh Kế được sáp nhập vào thị xã Bắc Giang. Huyện Lạng Giang còn lại thị trấn Kép, thị trấn nông trường Cam Bố Hạ và 22 xã: An Hà, Đại Lâm, Đào Mỹ, Dĩnh Trì, Dương Đức, Hương Lạc, Hương Sơn, Mỹ Hà, Mỹ Thái, Nghĩa Hòa, Nghĩa Hưng, Phi Mô, Quang Thịnh, Tân Dĩnh, Tân Hưng, Tân Thanh, Tân Thịnh, Thái Đào, Tiên Lục, Xuân Hương, Xương Lâm, Yên Mỹ.

Ngày 22-12-1997, thành lập thị trấn Vôi - thị trấn huyện lỵ huyện Lạng Giang trên cơ sở 335,87 ha diện tích tự nhiên và 4560 nhân khẩu của xã Yên Mỹ.

Ngày 12-7-2007 điều chỉnh địa giới hành chính giải thể thị trấn nông trường Cam Bố Hạ, địa bàn nhập vào xã Quang Thịnh, huyện Lạng Giang và các xã Đông Sơn, Đồng Hưu, huyện Yên Thế.

Từ 27/9/2010 điều chỉnh địa giới hành chính tách xã Dĩnh Trì được sáp nhập vào thành phố Bắc Giang theo Nghị quyết số 36/NQ-CP của Chính phủ.

Dự kiến trong năm 2018, các xã Thái Đào, Tân Dĩnh, Xuân Hương sẽ được sáp nhập vào thành phố Bắc Giang.

Câu 2: Chi bộ Đảng đầu tiên của huyện Lạng Giang (Chi bộ Phủ Lạng Thương) được thành lập khi nào? Ở đâu? Chi bộ có bao nhiêu đảng viên? Bí thư chi bộ là ai? Đến nay Đảng bộ huyện Lạng Giang có bao nhiêu Chi, Đảng bộ cơ sở?

- Từ giữa năm 1938, đồng chí Hoàng Quốc Việt lên hoạt động ở Bắc Ninh, Bắc Giang. Đồng chí chắp mối liên lạc và gây cơ sở ở thị xã Phủ Lạng Thương, ấp Tam Sơn. Đồng chí Hoàng Quốc Việt bắt liên lạc với những đồng chí vừa thoát khỏi nhà tù đế quốc hoặc mất liên lạc với Đảng từ những năm 1930-1931 đang hoạt động ở Bắc Giang và lập ra Chi bộ phủ Lạng Thương vào cuối năm 1938.

- Chi bộ phủ Lạng Thương được thành lập cuối năm 1938, tại ấp Tam Sơn, thị xã Phủ Lạng Thương (thuộc Tam Sơn Tân Dĩnh, Lạng Giang, Bắc Giang  ngày nay). Việc thành lập chi bộ Phủ Lạng Thương là kết quả của 10 năm đấu tranh kiên trì, gian khổ của nhân dân Lạng Giang (Trích trong cuốn Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Lạng Giang tập I xuất bản năm 1987). Chi bộ khi thành lập có 05 đảng viên, gồm các đồng chí: Vương Văn Trà, Mai Thị Vũ Trang, Nguyễn Văn Giảng, Nguyễn Văn Lung, Ngô Văn Hiệp (tức Ngô Tuấn Tùng) sau đó chi bộ được phát triển thêm 12 đồng chí. Bí thư chi bộ: Đồng chí Vương Văn Trà.

- Chi bộ Phủ Lạng Thương có vai trò như một Ban cán sự Đảng của tỉnh Bắc Giang, lãnh đạo phong trào cách mạng tỉnh Bắc Giang trong những năm cuối của thời kỳ vận động dân chủ. Nhiều đảng viên của Chi bộ đã đi xây dựng cơ sở ở Đại Từ, Thép Thượng (Lục Nam), An Tràng, Đào Tràng, ấp Tam Sơn…

- Đến nay Đảng bộ huyện Lạng Giang có 48 chi, đảng bộ cơ sở (29 đảng bộ, 19 chi bộ); 428 chi bộ trực thuộc các đảng ủy cơ sở.

Câu 3: Nêu hoàn cảnh ra đời và thời gian thành lập Đảng bộ huyện Lạng Giang? Ai là Bí thư Huyện ủy? Khi thành lập Đảng bộ huyện có những tổ chức cơ sở đảng nào?

* Hoàn cảnh ra đời: Trước tình hình thực tế diễn ra phức tạp, ngày 11/11/1945, Đảng ta tuyên bố tự giải tán, thực chất là rút vào hoạt động bí mật, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc và không ngừng củng cố, phát triển Đảng. Các tổ chức đảng ở Lạng Giang rút vào hoạt động bí mật.

- Tháng 10- 1945, Hội nghị đại biểu đảng bộ tỉnh Bắc Giang họp ở đình Đìa Đông (thuộc xã Dĩnh Trì). Hội nghị nêu rõ công tác củng cố và phát triển Đảng phải được tiến hành thường xuyên. Lúc này, cả huyện mới có một chi bộ đảng.

- Phong trào cách mạng trên địa bàn Lạng Giang do một chi bộ đảng lãnh đạo. Từ tháng 02/1946- 7/1946 đồng chí Hồ Quang Thành (Thành Quán) làm bí thư chi bộ; từ tháng 12/1946 đồng chí Hải Oanh thay đồng chí Hồ Quang Thành. Chi bộ chú trọng công tác phát triển đảng viên mới; trong đợt kết nạp đầu tiên tháng 4/1946, Chi bộ đã kết nạp được 05 đảng viên. Từ cuối năm 1946 trở đi, các chi bộ xã Đào Quán, Cần Dinh, Dĩnh Trì, Phi Mô, Tân Dĩnh,Mỹ Thái, Tân Hưng…lần lượt được thành lập…

* Thời gian thành lập: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Lạng Giang được thành lập cuối năm 1946. Huyện ủy gồm 07 ủy viên, 03 đồng chí trong Ban Thường vụ. Đến quý I năm 1947, đảng bộ Lạng Giang đã có 13 chi bộ với 134 đảng viên. Khoảng giữa năm 1947, đồng chí Nguyễn Thương được tỉnh ủy cử về làm Bí thư huyện ủy Lạng Giang. Số lượng đảng viên trong đảng bộ đã lên tới 230 đồng chí, sinh hoạt ở 18 chi bộ.

* Bí thư Huyện ủy: Đồng chí Dương Quốc Cẩm. Chủ tịch: đồng chí Nguyễn Trọng Hoa. Chủ nhiệm Việt Minh: đồng chí Ngô Duy Phương.

* Khi thành lập Đảng bộ huyện Lạng Giang có 07 tổ chức cơ sở đảng, gồm các chi bộ: xã Đào Quán, Cần Dinh, Dĩnh Trì, Phi Mô, Tân Dĩnh, Mỹ Thái, Tân Hưng.

* Những năm 1947-1949 Đảng bộ có sự trưởng thành nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; chú trọng xây dựng Đảng về tổ chức, tăng cường công tác tư tưởng, tuyên truyền sâu rộng đường lối kháng chiến, bồi dưỡng chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Đến Quý I/1947, Đảng bộ huyện đã có 13 chi bộ với tổng số 134 đảng viên. Đến giữa năm 1947, có 18 chi bộ với 230 đảng viên. Tháng 8/1948, lần đầu tiên Đảng bộ huyện tổ chức Hội nghị qoàn Đảng bộ; Hội nghị bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 13 đồng chí, do đồng chí Đỗ Văn Soạn làm Bí thư.

- Nhằm đáp ứng yêu cầu sự nghiệp kháng chiến, công tác phát triển đảng được đẩy mạnh; đến tháng 12/1948 toàn Đảng bộ huyện đã có 648 đảng viên, sinh hoạt ở 22 chi bộ, trong đó: 16 chi bộ làng, 6 chi bộ thuộc các cơ quan công sở. Huyện ủy chỉ đạo chặt chẽ công tác chỉnh huấn tư tưởng, củng cố tổ chức đảng ở cơ sở; Huyện ủy tổ chức các đội chỉnh huấn, củng cố cơ sở về các chi bộ xã giúp đỡ các chi bộ xây dựng chi bộ tự động công tác và hướng dẫn tự phê bình và phê bình. Qua đó nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển.

Câu 4: Từ khi thành lập đến nay, Đảng bộ huyện Lạng Giang đã tiến hành bao nhiêu kỳ Đại hội? Nêu thời gian, địa điểm tổ chức các kỳ Đại hội? Nêu họ, tên các đồng chí Bí thư Huyện ủy  và Chủ tịch UBND huyện qua các thời kỳ?

ĐẢNG BỘ HUYỆN LẠNG GIANG QUA 21 KỲ ĐẠI HỘI

- Tháng 01-1959, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Lạng Giang lần thứ Nhất được tổ chức. Dự Đại hội có 100 đại biểu, đại diện cho trên 1.000 đảng viên toàn đảng bộ. Đại hội kiểm điểm, đánh giá hoạt động của Đảng bộ, đề ra phương hướng, nhiệm vụ năm 1959; bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 18 đồng chí (15 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết). Đồng chí Nguyễn Ninh được bầu làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Hoàng Tân được bầu làm Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch Ủy ban hành chính (UBHC) huyện.

- Tháng 5/1960, Đảng bộ huyện Lạng Giang tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ II. Đại hội bầu đồng chí Lưu Đình Khoa làm Bí thư Huyện ủy; Đồng chí Nguyễn Tường Lân làm Phó Bí thư Huyện ủy- Chủ tịch UBHC huyện.

- Tháng 01-1962, Đảng bộ tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ III, đồng chí Nguyễn Thanh Quất được bầu làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Nguyễn Tường Lân làm Phó Bí thư Huyện ủy.

- Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Lạng Giang lần thứ IV được tổ chức tháng 4/1963, đồng chí Phạm Các được bầu làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Nguyễn Văn Tăng làm Phó Bí thư.

- Ngày 02-10-1964, Đảng bộ huyện tổ chức Đại hội lần thứ V, 119 đại biểu, đại diện cho 1.874 đảng viên trong toàn Đảng bộ tham dự. Đại hội đã bàn và đề ra phương hướng kiện toàn các cấp ủy, nâng cao chất lượng, đảm bảo tăng cường năng lực lãnh đạo và uy tín của cấp ủy, đảm bảo lãnh đạo hoàn thành thắng lợi kế hoạch nhà nước, phát triển kinh tế, văn hóa. Đại hội bầu BCH Đảng bộ khóa V gồm 21 ủy viên (19 ủy viên chính thức và 2 ủy viên dự khuyết). Đồng chí Vũ Quang Cầu được bầu làm Bí thư Huyn ủy; đồng chí Nguyễn Văn Tăng làm Phó Bí thư Huyện ủy- Chủ tịch UBHC; đồng chí Nguyễn Văn Nếp làm Phó Bí thư Huyện ủy.

- Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ VI được tổ chức tại rừng xóm Tê, thôn Bừng, xã Tân Thanh. Đại hội diễn ra trong 3 ngày từ 09 đến 11-3-1967, có 135 đại biểu tham dự (124 đại biểu chính thức và 11 đại biểu dự khuyết). Đại hội lần này là "Đại hội quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược". Đại hội thông qua dự thảo báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa V; tổ chức đón Huân chương Chiến công hạng II về thành tích phục vụ chiến đấu và chiến đấu trong năm 1965-1966. Đại hội đã nhất trí thông qua Nghị quyết về phương hướng nhiệm vụ, nhiệm kỳ 1967-1968; bầu BCH Đảng bộ huyện gồm 23 ủy viên chính thức và 2 ủy viên dự khuyết. Ban Thường vụ Huyện ủy gồm 9 đồng chí, đồng chí Nguyễn Văn Nếp được bầu làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Nguyễn Văn Tăng, Phó Bí thư- Chủ tịch UBHC; đồng chí Nguyễn Văn Nghĩa làm Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy.

- Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ VII tổ chức từ ngày 10- 13/4/1969, tại xóm Thượng (xã Mỹ Thái), tham dự Đại hội có 142 đại biểu chính thức và 10 đại biểu dự khuyết. Đại hội đã bầu BCH Đảng bộ gồm 21 ủy viên chính thức và 2 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Văn Nếp được bầu làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Nguyễn Văn Nghĩa làm Phó Bí thư- Chủ tịch UBHC; đồng chí Nguyễn Sơ làm Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy.

- Từ ngày 19- 23/5/1971, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ VIII được tổ chức tại Hội trường Ủy ban hành chính huyện ở rừng Vôi, làng Chu Nguyên, xã Yên Sơn (nay là Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp- Giáo dục thường xuyên). Về dự Đại hội có 150 đại biểu đại diện cho 3.359 đảng viên sinh hoạt ở 36 chi bộ cơ quan, 24 chi bộ xã, thị trấn. Đại hội thảo luận dự thảo nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ II; tập trung thảo luận và bàn biện pháp thực hiện Nghị quyết nhiệm kỳ 1971-1972 của Đảng bộ huyện trên các mặt củng cố hợp tác xã, đẩy mạnh sản xuất, sẵn sàng chiến đấu. Đại hội đã bầu BCH khóa VIII gồm 23 đồng chí, đồng chí Nguyễn Văn Nếp tiếp tục được tín nhiệm bầu làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Nguyễn Sơ làm Phó Bí thư Huyện ủy.

- Từ ngày 26/3 đến ngày 30/3/1973, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Lạng Giang lần thứ IX được tổ chức tại xã Yên Mỹ. Đại hội đánh giá thành tích của huyện trong những năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Đại hội khẳng định quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ II; đề ra nhiệm vụ chủ yếu cho 2 năm 1973-1974; bầu Ban Chấp hành khóa IX, gồm 23 đồng chí (21 ủy viên chính thức và 2 ủy viên dự khuyết). Đồng chí Nguyễn Văn Nếp tiếp tục được tín nhiệm bầu làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Nguyễn Sơ làm Phó Bí thư- Chủ tịch UBHC, đồng chí Trịnh Văn Tạo được bầu làm Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy.

- Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ X (được tổ chức 2 đợt)

Đợt 1: Từ ngày 4 đến 10-4-1976. Đại hội đã thông qua phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch 5 năm lần thứ 2 (1976-1980). Đại hội bầu Ban Chấp hành khóa X gồm 25 ủy viên chính thức và 2 dự khuyết. Ngày 12-4 Ban Chấp hành Đảng bộ bầu đồng chí Nguyễn Xuân Tống làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Nguyễn Văn Nghĩa làm Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy; đồng chí Nguyễn Sơ làm Phó Bí thư-Chủ tịch UBND. Từ ngày 5/7/1976, đồng chí Nguyễn Văn Nghĩa làm Bí thư Huyện ủy thay đồng chí Nguyễn Xuân Tống về tỉnh nhận công tác khác.

Đợt 2: Trong 3 ngày, từ 30/10 đến 01/11/1976. Dự Đại hội có 216 đại biểu thay mặt cho toàn thể đảng viên trong Đảng bộ. Đại hội thảo luận, đóng góp bổ sung dự thảo các văn kiện của Trung ương Đảng trình Đại hội toàn quốc lần thứ IV; thông qua nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể những tháng cuối năm 1976, đầu năm 1977; chỉ đạo các ngành, các cấp tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV và Đại hội Đảng bộ tỉnh.

- Từ ngày 25- 31/5/1977, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XI được tổ chức, dự Đại hội có 191 đại biểu. Đại hội quán triệt Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng; nghiên cứu dự thảo báo cáo chính trị và phương hướng nhiệm vụ thông qua tại Đại hội Đảng bộ tỉnh; đóng góp ý kiến vào dự thảo báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ. Đại hội bầu Ban Chấp hành khóa XI gồm 27 đồng chí, đồng chí Nguyễn Văn Nghĩa được bầu làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Nguyễn Sơ làm Phó Bí thư Huyện ủy- chủ tịch UBND huyện.

- Tháng 10-1979 Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XII được tổ chức. Dự Đại hội có 171 đại biểu và 6 đại biểu của các cơ quan tỉnh về ứng cử đi dự Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ V. Đại hội xác định phương hướng, nhiệm vụ 2 năm (1980-1981); bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XII gồm 31 ủy viên chính thức và 2 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Văn Nghĩa được bầu làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Nguyễn Tân làm Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy; đồng chí Nguyễn Sơ làm Phó Bí thư Huyện ủy- Chủ tịch UBND huyện.

- Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XIII được tổ chức thành 2 đợt.

Đợt 1: từ ngày 29/12/1981 đến ngày 01/01/1982 tại Hội trường UBND huyện. Dự Đại hội có 184 đại biểu thay mặt cho 4.182 đảng viên trong Đảng bộ. Đại hội đã tập trung thảo luận và quán triệt các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V. Đại hội nghiêm túc kiểm điểm những khuyết điểm về công tác xây dựng Đảng, quản lý kinh tế, quản lý xã hội trong nững năm tiếp theo.

Đợt 2: từ ngày 05- 08/01/1983 tại hội trường của huyện, có 187 đại biểu đại diện cho 4.439 đảng viên trong Đảng bộ về dự. Đại hội kiểm điểm tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, đánh giá mọi mặt công tác 2 năm 1981-1982; thông qua phương hướng, nhiệm vụ mục tiêu 3 năm (1983-1985). Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện gồm 31 ủy viên chính thức và 2 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Hà Văn Cẩm được bầu làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Nguyễn Đức Nhuận làm Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy; đồng chí Bạch Công Hinh Phó Bí thư Huyện ủy- Chủ tịch UBND huyện.

- Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XIV tổ chức từ ngày 10 đến 14/9/1986. Tham dự Đại hội có 240 đại biểu (218 đại biểu chính thức và 22 đại biểu dự khuyết) thay mặt trên 5000 đảng viên trong toàn Đảng bộ huyện. Đại hội tập trung nghiên cứu, thảo luận và đóng góp vào các văn kiện: Dự thảo báo cáo chính trị của BCH Trung ương Đảng trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI; báo cáo tổng hợp ý kiến đề nghị bổ sung Điều lệ Đảng; dự thảo báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá VI; dự thảo báo cáo của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khoá XIII trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XIV. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện gồm 41 ủy viên (33 ủy viên chính thức và 8 ủy viên dự khuyết). Đồng chí Hà Văn Cẩm được bầu làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Nguyễn Đức Nhuận làm Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy; đồng chí Bạch Công Hinh làm Phó Bí thư- Chủ tịch UBND huyện.

- Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XV được tổ chức từ ngày 28 đến ngày 30-11-1988 tại hội trường huyện, có 246 đại biểu đại diện cho trên 5.700 đảng viên trong Đảng bộ huyện tham dự. Đại hội kiểm điểm, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIV, rút kinh nghiệm trên các lĩnh vực công tác và đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp trong nhiệm kỳ mới. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá XV gồm 39 uỷ viên, trong đó 4 uỷ viên dự khuyết. Ban Chấp hành Đảng bộ bầu đồng chí Hà Văn Cẩm làm Bí thư Huyện uỷ; đồng chí Bạch Công Hinh làm Phó Bí thư Huyện ủy- Chủ tịch UBND; đồng chí Nguyễn Đức Nhuận làm Phó Bí thư Thường trực Huyện uỷ.

- Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XVI được tổ chức từ ngày 24/10 đến 26/10/1991; có 225 đại biểu chính thức đại diện cho 5.237 đảng viên tham dự. Đại hội đã bầu 32 Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện. Đồng chí Hà Văn Cẩm được bầu làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Đào Xuân Cần làm Phó Bí thư- Chủ tịch UBND huyện, đồng chí Bạch Công Hinh làm Phó Bí thư Thường trực Huyện uỷ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện. Đến tháng 3/1993, đồng chí Đào Xuân Cần được điều về tỉnh công tác, Huyện uỷ bầu bổ sung đồng chí Nguyễn Văn Liêm làm Phó Bí thư- Chủ tịch UBND huyện. Đầu tháng 11/1993, đồng chí Hà Văn Cẩm nghỉ hưu, Huyện uỷ bầu đồng chí Bạch Công Hinh làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Nguyễn Thế Hùng, Ủy viên Ban Thường vụ, Chủ nhiệm UBKT Huyện uỷ được bầu làm Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy.

- Từ ngày 02 đến 04/01/1996, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XVII được tổ chức. Về dự Đại hội có 231 đại biểu, đại diện cho trên 5.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ huyện. Đại hội tổng kết và đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVI. Đại hội khẳng định: Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện đã nỗ lực khắc phục khó khăn, từng bước vận dụng đường lối đổi mới của Đảng vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ do Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện đề ra. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành khoá XVII gồm 33 đồng chí. Đồng chí Bạch Công Hinh được bầu làm Bí thư Huyện uỷ; các đồng chí Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Văn Liêm được bầu làm Phó Bí thư Huyện uỷ. Đến năm 1997, đồng chí Nguyễn Văn Liêm chuyển công tác về tỉnh, đồng chí Nguyễn Đức Kha được bầu làm Phó Bí thư Huyện ủy- Chủ tịch UBND huyện.

- Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XVIII được tiến hành từ ngày 27 đến 29/11/2000, với sự tham dự của 178 đại biểu, đại diện cho trên 5.000 đảng viên trong huyện. Đại hội đã kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII trong những năm cuối của thế kỷ XX, đề ra phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu cho những năm đầu thế kỷ XXI (giai đoạn 2001-2005). Đại hội đã bầu 33 uỷ viên Ban Chấp hành khoá XVIII. Đồng chí Nguyễn Thế Hùng được bầu làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Nguyễn Đức Kha được bầu Phó Bí thư Huyện ủy-Chủ tịch UBND huyện; đồng chí Nguyễn Mạnh Cường được bầu Phó Bí thư Thường trực Huyện uỷ.

Từ tháng 01/2003 đồng chí Nguyễn Mạnh Cường được bầu làm Chủ tịch UBND huyện; đồng chí Vũ Văn Chính được luân chuyển về huyện Lạng Giang công tác, chỉ định tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, giữ chức Phó Bí thư Huyện ủy. Tháng 7/2004, đồng chí Nguyễn Thế Hùng- Bí thư Huyện ủy chuyển lên tỉnh công tác. Tháng 8/2004 đồng chí Vũ Văn Chính làm Bí thư Huyện ủy, đến tháng 7/2005 chuyển công tác khác. Tháng 8/2005 đồng chí Nguyễn Mạnh Cường làm Bí thư Huyện ủy.

- Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XIX, tổ chức ngày 04- 05/10/2005.  Đại hội đã chỉ rõ những nguyên nhân chủ yếu của những kết quả đạt được cần tiếp tục phát huy trong những năm tiếp theo; đồng thời chỉ ra những hạn chế khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng những năm 2001- 2005, xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát trin của huyện trong những năm 2006- 2010. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá XIX gồm 39 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Mạnh Cường được bầu làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Ngô Sách Thực được bầu làm Phó Bí thư Huyện uỷ- Chủ tịch UBND huyện; đồng chí Bùi Ngọc Sơn làm Phó Bí thư Thường trực Huyện uỷ.

Tháng 12/2007, đồng chí Ngô Sách Thực lên tỉnh công tác, đồng chí Vũ Văn Hùng được bầu làm Phó Bí thư Huyện uỷ- Chủ tịch UBND huyện.

Đến tháng 6/2008 đồng chí Nguyễn Mạnh Cường chuyển lên tỉnh công tác; tháng 7/2008 Ban chấp hành Đảng bộ huyện bầu đồng chí Bùi Ngọc Sơn làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Phạm Giang- Phó Giám đốc Sở Xây dựng được luân chuyển về huyện công tác, chỉ định tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, giữ chức Phó Bí thư Thường Trực Huyện ủy.

Tháng 6-2010, đồng chí Phạm Giang chuyển lên tỉnh công tác; tháng 7/2010, đồng chí Tạ Huy Cần- Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tổ Chức Huyện ủy được bầu làm Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy.

- Từ ngày 14- 16/7/2010 diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Lạng Giang lần thứ XX; có 251 đại biểu, đại diện cho trên 7.000 đảng viên trong Đảng bộ huyện tham dự. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành khoá XX gồm 45 đồng chí. Đồng chí Bùi Ngọc Sơn được bầu làm Bí thư­ Huyện ủy trực tiếp tại Đại hội; đồng chí Tạ Huy Cần làm Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy, đồng chí Vũ Văn Hùng làm Phó Bí thư Huyện ủy- Chủ tịch UBND huyện.

Ngày 01/01/2013, đồng chí Bùi Ngọc Sơn- Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy được điều động về tỉnh công tác, phân công giữ chức Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh; đồng chí Trần Văn Lâm, Tỉnh ủy viên- Chánh Văn phòng Tỉnh ủy được luân chuyển về huyện Lạng Giang công tác, chỉ định tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, giữ chức Bí thư Huyện ủy Lạng Giang, nhiệm kỳ 2015-2020.

Ngày 01/7/2013, đồng chí Tạ Huy Cần- Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy được bầu làm Chủ tịch HĐND huyện.

Tháng 12/2014, đồng chí Vũ Văn Hùng, Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện được nghỉ hưu và hưởng chế độ bảo hiểm xã hội; đồng chí Nguyễn Văn Nghĩa- Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Chủ tịch UBND huyện được bầu làm Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện.

- Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Lạng Giang lần thứ XXI được tổ chức từ ngày 24-26/6/2015 tại Trung tâm Hội nghị huyện; có 268 đại biểu chính thức đại diện cho trên 7.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ huyện tham dự Đại hội. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành khóa XXI gồm 43 đồng chí. Đồng chí Trần Văn Lâm được bầu làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Tạ Huy Cần được bầu làm Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy; đồng chí Nguyễn Văn Nghĩa làm Phó Bí thư Huyện ủy- Chủ tịch UBND huyện.

Từ ngày 01/7/2016, đồng chí Trần Văn Lâm- Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy được điều động, phân công giữ chức Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang; đồng chí Tạ Huy Cần- Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện được bầu làm Bí thư Huyện ủy.

Tháng 11/2016, đồng chí Nguyễn Việt Oanh- Phó Giám đốc Sở Giao thông vận tải tỉnh Bắc Giang được luân chuyển về huyện Lạng Giang công tác, chỉ định tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Huyện ủy, giữ chức Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy.

Câu 5: Ông (bà), anh (chị) hãy cho biết những nhiệm vụ trọng tâm, vai trò lãnh đạo của Đảng và những thành quả (kết quả) đạt được trong các giai đoạn lịch sử sau đây của huyện mà ông (bà), anh (chị) tâm đắc:

(1) Lạng Giang dưới ách áp bức của thực dân phong kiến và phong trào đấu tranh tiến  tới khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945?

KHÁI QUÁT VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH HUYỆN LẠNG GIANG QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ

Huyện Lạng Giang nằm ở phía bắc tỉnh Bắc Giang, trên quốc lộ 1A, trục đường nối từ biến giới về thành phố Bắc Giang và xuống đồng bằng Bắc Bộ. Huyện Lạng Giang có diện tính tự nhiên 246,06 km­­2­­­. Phía Bắc giáp huyện Hữu Lũng (Lạng Sơn) và huyện Yên Thế (Bắc Giang). Phía Đông giáp huyện Lục Nam, phía Tây giáp huyện Tân Yên, phía Tây Nam và Nam là thành phố Bắc Giang và huyện Yên Dũng. Huyện có 23 xã, thị trấn, đến cuối năm 2009, dân số của huyện là 196.406 người gồm 9 dân tộc.

Lạng Giang có vị trí chiến lược quan trọng về an ninh quốc phòng, phên dậu của kinh thành Thăng Long xưa- thủ đô Hà Nội ngày nay. Tuy không có núi rừng hiểm trở, song với một địa hình tự nhiên sẵn có ba bề bốn mặt sông núi bao che, rừng đồi, đồng ruộng, khe lũng dựng nên thành lũy, Lạng Giang tự tạo cho mình một địa thế chiến lược phòng thủ vững chắc, sẵn sàng đánh bại mọi mưu đồ xâm lược của kẻ thù khi chúng đặt chân đến mảnh đất này.

Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng với vùng núi, Lạng Giang có cảnh quan khá sinh động với địa hình tự nhiên rừng đồi, đồng ruộng, khe lũng xen lẫn. Tuy vậy nơi đây cũng là vùng đất có điều kiện tự nhiên khí hậu khá khắc nghiệt, trải qua bao thế hệ với bàn tay lao động cần cù và sự sáng tạo nhân dân Lạng Giang đã khai phá đất rừng, bãi hoang thành đồng ruộng màu mỡ phì nhiêu, diện mạo tự nhiên của huyện ngày một đổi thay. Các hệ thống kênh mương dẫn nước từ đầu nguồn sông Thương tạo nên một hệ thống thuỷ lợi hoàn chỉnh, đủ sức  tưới tiêu cho hầu hết diện tích cây trồng. Lạng Giang có hệ thống giao thông đa dạng, phân bố đều, tạo thuận lợi cho hoạt động thông thương, giao lưu với các địa phương trong tỉnh, cả nước.

Lạng Giang nằm trên vùng đất cổ, quá trình hình thành, phát triển gắn với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trải qua những biến cố của lịch sử, với những đổi thay do sự biến đổi của dân cư trong các chặng đường lịch sử phát triển của đất nước, dân tộc, ranh giới, tên gọi hành chính của vùng đất Lạng Giang cũng nhiều lần thay đổi. Tên Châu Lạng có từ thế kỷ XI, đến cuối đời Trần, đổi thành lộ Lạng Giang, gồm 7 huyện: Long Nhỡn, Cổ Dũng, Phượng Sơn, Na Ngạn, Yên Thế, Yên Ninh và Bảo Lộc. Địa giới Bảo Lộc gồm Lạng Giang ngày nay và một phần Lục Nam. Trụ sở huyện Bảo Lộc ở làng Chu Nguyên (nay thuộc thị trấn Vôi). Năm 1895, tỉnh Bắc Giang được thành lập, huyện Bảo Lộc, sau đổi thành huyện Phất Lộc, thuộc Bắc Giang. Năm 1924 huyện Phất Lộc đổi thành phủ Lạng Giang, bao gồm Lạng Giang ngày nay và một số xã của huyện Lục Nam, một số xã phía Bắc sông Thương của huyện Yên Dũng, một số xã của huyện Việt Yên và thành phố Bắc Giang ngày nay. Phủ Lỵ đóng tại phủ Lạng Thương. Ngày 25-3-1948, Chính phủ ra Sắc lệnh số 148/SL quy định bãi bỏ các danh từ như phủ, quận, cấp trên xã và cấp dưới tỉnh thống nhát gọi là cấp huyện.

Với vị trí địa lý thuận lợi hiện nay, Lạng Giang là một trong bốn huyện, thành phố (Việt Yên, Yên Dũng, Lạng Giang và TP Bắc Giang) được xác định là vùng trọng điểm phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Bắc Giang. Trong tiến trình đổi mới và hội nhập, nhiều cụm công nghiệp của huyện được thành lập, nhanh chóng thu hút được sự đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước, các thành phần kinh tế. Một số cụm công nghiệp và một số vùng sản xuất nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến nông sản hình thành. Đây là những yếu tố tích cực tạo tiền đề để huyện phát huy tiềm năng và lợi thế, thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển.

II. TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA- LỊCH SỬ CỦA NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

1. Nhân dân Lạng Giang có truyền thống yêu nước và cách mạng chống giặc ngoại xâm kiên cường bất khuất

Truyền thống yêu nước và cách mạng kiên cường, bất khuất, tự lực tự cường, can trường trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm sớm thể hiện trong việc nhân dân các dân tộc Lạng Giang cùng nhân dân Bắc Giang tham gia cuộc kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ quê hương. Trong suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, vùng đất Bắc Giang nói chung và Lạng Giang nói riêng được coi là phên dậu của kinh thành Thăng Long nên đã trở thành chiến trường của quân và dân cả nước ta chống lại sự xâm lược của các triều đại phong kiến phương Bắc. Điển hình là trong cuộc kháng chiến chống Tống (1075- 1077), cuộc kháng chiến chống quân Nguyên- Mông (1258- 1288), nhân dân các dân tộc Lạng Giang đã có nhiều đóng góp trong việc chặn đánh địch khi chúng qua đây. Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh đầu thế kỷ XV, nhân dân Lạng Giang đã đóng góp vào các trận đánh Cần Trạm, Hố Cát góp phần tạo nên chiến thắng Chi Lăng- Xương Giang. Không đầy một tháng (15-10 đến 3-11-1427), trên các trận địa Cần Trạm, Hố Cát, Xương Giang nghĩa quân Lam Sơn có nhân dân Lạng Giang ủng hộ đã tiêu diệt hoàn toàn 9 vạn viện binh địch. Thắng lợi này đã góp phần cùng quân dân cả nước chấm dứt 20 năm đô hộ tàn bạo của nhà Minh (1407-1427), mở ra một trang sử mới trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trong cuộc kháng chiến chống quân Thanh (1789) quân dân Lạng Giang cũng đã góp phần cùng quân dân cả nước đánh bại 29 vạn quân Thanh, giành lại độc lập cho đất nước. Sự đóng góp của nhân dân Lạng Giang bằng việc gom góp, tiếp tế bảo đảm nguồn lương ăn cho quân sỹ trong suốt thời gian chiến đấu; lực lượng dân binh các làng xã kề vai sát cánh cùng nghĩa quân bao vây đánh giặc cũng như trong các trận tiến công…Tiếp nối những trang sử hào hùng chống kẻ thù xâm lược phương Bắc, nhân dân Lạng Giang lại cùng cả dân tộc kiên quyết đứng lên đấu tranh chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

* Trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược:

Ngày 15-3-1884 quân Pháp đánh chiếm phủ Lạng Thương. Sáng ngày 16-3-1884 quân Pháp đánh chiếm Kép.

Với truyền thống yêu nước kiên cường nhân dân các dân tộc Lạng Giang đã đứng lên khởi nghĩa, sớm tham gia hưởng ứng các cuộc khởi nghĩa nông dân và phong trào Cần Vương dưới cờ tụ nghĩa của các thổ hào địa phương dấy binh chống Pháp, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Bảo Lộc do Cai Biều- tổng Bưởi lãnh đạo (1884-1891) (huyện Bảo Lộc lúc đó thuộc phủ Lạng Giang); khởi nghĩa Hoàng Hoa Thám cũng tiến hành nhiều hoạt động trên địa bàn Lạng Giang (hoạt động của Cai Kinh (1882-1888); hoạt động của nghĩa quân Yên Thế trên đất Lạng Giang (1894-1896); khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Khắc Nhu lãnh đạo ở xã Tân Thịnh).

Trong thời kỳ tổng khởi nghĩa, Bắc Giang là một trong bốn tỉnh tiến hành cuộc cách mạng tháng tám năm 1945 thành công sớm nhất trong toàn quốc. Bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp, đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của thủ tịch Hồ Chí Minh “Thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, quân và dân Lạng Giang đã cùng với quân dân cả nước vượt lên muôn vàn khó khăn gian khổ hi sinh và đã giành thắng lợi vẻ vang góp phần ghi tiếp những chiến công chói lọi vào trang sử vàng chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

* Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hàng nghìn lượt người trong huyện đã lên đường nhập ngũ để  “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Ở tiền tuyến nhiều người con của Lạng Giang đã lập công xuất sắc, ở hậu phương, nhân dân thi đua thực hiện thắng lợi khẩu hiệu “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Trong cuộc chiến đấu ấy, hàng nghìn người con của Lạng Giang đã hi sinh anh dũng, biết bao tấm gương tiêu biểu của chủ nghĩa anh hùng cách mạng đã trở thành biểu tượng của lẽ sống, niềm tin của nhân dân ta; nhiều tên đất, tên người đã mãi mãi tạc vào lịch sử.

2. Nhân dân Lạng Giang có tinh thần đoàn kết cộng đồng, tương thân tương ái, tình làng nghĩa xóm sâu đậm, hoà đồng bao dung

Vốn là vùng quê thuần nông với điều kiện tự nhiên nhiều khó khăn, thường xuyên phải khắc phục hậu quả thiên tai lũ lụt từ thượng nguồn sông Thương dồn về, nắng hạn thường xuyên, dịch bệnh nhiều đòi hỏi người dân phải tập hợp lại để đắp đê bảo vệ làng xóm, ruộng đồng. Nằm ở vị trí chiến lược quan trọng của đất nước là phên dậu của kinh thành Thăng Long, ngay từ buổi đầu dựng nước, nhân dân Lạng Giang đã cùng nhân dân cả nước chống lại các cuộc xâm lược của các triều đại phong kiến phương Bắc. Sống trong hoàn cảnh như vậy, người dân lạng Giang sớm đoàn kết, gắn bó với nhau trong cuộc đấu tranh chống chọi với thiên nhiên và giặc ngoại xâm để sinh tồn. Vì thế tinh thần tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong đời sống thường ngày sớm hình thành trong mỗi người dân. Do những đặc điểm về vị trí, địa hình và do những biến cố lịch sử đất Bắc Giang nói chung và Lạng Giang nói riêng, dân cư được hình thành bởi quá trình định cư lâu dài, kết quả của nhiều đợt thiên di cư của nhiều nhóm cư dân từ nhiều vùng miền tới, nơi quy tụ của nhiều tộc người, dòng họ, tôn giáo, tín ngưỡng, nghề nghiệp  trở thành một trong những nơi tụ hội của nhiều luồng dân cư đến sinh sống lập nghiệp. Nhưng dù đến Lạng Giang trong hoàn cảnh nào, họ đều sớm hòa nhập vào một cộng đồng đoàn kết, bao dung, cùng nhau chung lưng đấu cật, đề cao tính cộng đồng xây dựng xóm làng hợp tác tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất và trong cuộc sống, trở thành giá trị truyền thống và đạo lý sống của nhân dân.

Cộng đồng dân cư ở Lạng Giang gồm 9 dân tộc anh em. Giữa các dân tộc có bản sắc riêng nhưng có nhiều phong tục tập quán chung, một số làng có chung đình chùa, thờ chung Thành Hoàng… Trong thời kỳ đấu tranh cách mạng, nhân dân các dân tộc đã đùm bọc nuôi giấu và giúp đỡ cán bộ cách mạng. Nhiều phong trào đấu tranh, phong trào tương thân tương ái do Đảng lãnh đạo được nhân dân ra sức ủng hộ. Ngày nay truyền thống đoàn kết quý báu đó tiếp tục được phát huy, phát triển ngày càng phong phú, rực rõ hơn.

3. Nhân dân Lạng Giang có truyền thống lao động cần cù và sáng tạo

Từ xa xưa sống trong điều kiện tự nhiên còn nhiều khó khăn; để mưu sinh, người dân nơi đây phải vật lộn với thiên tai, kiên trì bền bỉ lao động phát triển sản xuất. Từ đó sớm rèn đúc nên đức tính cần cù chịu thương, chịu khó, căn cơ và lạc quan trong lao động sản xuất, xây dựng cuộc sống. Quá trình đó để lại nhiều dấu ấn trong các câu chuyện mở làng, lập ấp và tạo nên những xóm làng trù phú. Mặt khác, do sống trên địa bàn trung du, vừa có núi đồi, vừa có đồng bằng, người dân Lạng Giang từ đời này sang đời khác cần mẫn lao động, cải tạo đồi bãi, chế ngự thiên tai đã tạo nên những cánh đồng màu mỡ để cấy lúa, trồng hoa màu và các loại cây ăn quả, cây đặc sản nổi tiếng như cam Bố Hạ, cam Cổ Trang. Ngoài nghề nông, người dân Lạng Giang còn làm một số nghề thủ công như mở lò rèn, sản xuất vũ khí và công cụ lao động, đúc xoong nồi, đan lát rổ rá, làm nón lá…Tuy chưa phát triển thành làng nghề lớn nhưng đã cũng cấp được những vật dụng cần thiết cho sản xuất và cuộc sống. Người Lạng Giang không chỉ giỏi làm ruộng mà còn thạo buôn bán. Trên đất Lạng Giang đã xuất hiện những trung tâm buôn bán. Vào thời Lê, chợ Phú Xuyên cũng được xếp vào hàng những chợ lớn như chợ Đức Thắng (Hiệp Hòa), chợ Vô Tranh (Lục Nam) của tỉnh Bắc Giang. Cần Dinh (Lạng Giang) là một điểm thu thuế thời Lê, Nguyễn. Sách Lê triều hội điển cho biết: Tuần Cần Dinh thuộc Kinh Bắc hàng năm thu được 4551 quan 5 tiền quý, so với 9 xứ khác ở đồng bằng sông Hồng thì trạm thuế này có số thu nhiều nhất, điều này chứng tỏ việc sản xuất buôn bán trong vùng đã khá tấp nập.

Ngày nay phát huy truyền thống cần cù, sáng tạo của cha ông ta, dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền nhân dân đã hăng hái phát triển sản xuất hàng hoá và nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp; phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, từng bước hình thành các vùng chuyên canh như sản xuất hàng hoá, chuyển đổi kinh tế hộ sang kinh tế trang trại; xuất hiện nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả. Sản xuất công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp phát triển, sản phẩm ngày càng đa dạng về chủng loại, chất lượng tốt hơn, hình thành quy hoạch một số khu cụm công nghiệp, đã thu hút được các doanh nghiệp đầu tư vào, bước đầu sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tạo thêm việc làm cho lao động nông nghiệp. Hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển ngày càng đa dạng, phong phú; các thị trấn, thị tứ, chợ nông thôn phát triển nhanh tạo thị trường ngày càng mở rộng và hoạt động thương mại- dịch vụ sôi động, bảo đảm cung cấp các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân.

4. Nhân dân Lạng Giang có truyền thống văn hóa và hiếu học

Lạng Giang nằm trên vùng đất cổ sớm có con người đến định cư, có bề dày lịch sử văn hóa lâu đời, có đời sống văn hóa dân gian phong phú, thống nhất trong đa dạng, được hình thành qua các thế hệ. Lạng Giang có nhiều danh thắng, di tích lịch sử văn hóa với hàng trăm ngôi đình, đền, chùa lớn nhỏ. Nhiều làng cổ có lai lịch lâu đời nằm trên trục đường thiên lý cổ như làng Chu Nguyên, làng Đại Phú… Nhiều di tích lịch sử gắn với lịch sử chống giặc ngoại xâm như: thành Cần Trạm-Hố Cát-Xương Giang… Nhiều làng có đình, chùa với quy mô và niên đại, kiến trúc, điêu khắc khác nhau. Gắn với hệ thống văn hoá vật thể là các giá trị văn hoá phi vật thể phong phú, với nhiều phường hát, phường chèo, phường tuồng ở các thôn xóm. Nhiều lễ hội được bảo tồn, điển hình như các lễ hội: Hội Đình Sơn (Mỹ Hà), Hội Làng Bừng (Tân Thanh), Hội Cổ Chu Nguyên (thị trấn Vôi), Hội Dương Quan Hạ (Dương Đức), Hội Làng Đại Giáp (Đại Lâm), Hội Làng Đại Phú (Phi Mô), Hội Phù Lão (Đào Mỹ), Hội Tiên Lục bên đình cây Dã Hương cổ thụ nghìn tuổi… Trong hệ thống các di sản văn hoá vật thể phong phú, có nhiều công trình được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia, cấp tỉnh. Đến nay có 16 công trình được xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia.

Đình đền nói chung để thờ Thành hoàng, phần lớn là những người có công với dân với nước, các anh hùng dân tộc chống giặc ngoại xâm hoặc những người sáng lập ra làng xã. Vì vậy lễ hội truyền thống của các làng, xã tổ chức hằng năm nhằm ghi nhận, kỷ niệm công trạng của các vị thần, đồng thời thể hiện ước muốn mãnh liệt về một sự trợ giúp siêu nhiên để mỗi vùng, mỗi cộng đồng ngày càng an khang thịnh vượng. Phần lễ được tổ chức theo các nghi lễ truyền thống như rước kiệu Thành hoàng, phần hội thường tổ chức các trò chơi dân gian như chọi gà, thi cờ người, cướp cầu, nấu cỗ…

Truyền thống khoa bảng của Bắc Giang cũng nổi danh trong cả nước. Trải qua 844 năm khoa cử của các triều đại phong kiến (1075- 1919) Bắc Giang có 66 người đỗ từ tiến sĩ đến trạng nguyên, xếp thứ 8 trong các tỉnh thành có người đỗ tiến sĩ trong cả nước. Đối với huyện Lạng Giang cũng có nhiều người đỗ đạt, trong đó có hai ông cháu là người xã Đức Mại (nay là Dương Đức) đỗ tiến sĩ; ông là Nguyễn Xuân Lan sinh năm Canh Dần (1470) đời vua Lê Thánh Tông, đỗ tam giáp; đồng tiến sĩ xuất thân, cháu nội Nguyễn Tảo sinh năm Ất Mão (1555) đời vua Lê Trang Tông. Nguyễn Tảo thi đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp), được nhà Mạc trọng dụng làm quan tới chức Thị lang. Cũng ở thời Mạc còn có Trạng nguyên Giáp Hải (1507- 1586) người Dĩnh Kế (nay thuộc thành phố Bắc Giang) đỗ Trạng Nguyên năm 1538 làm quan đến chức Lục bộ Thượng thư tước sách quận công.

Phát huy truyền thống khoa bảng của ông cha, ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, hưởng ứng lời kêu gọi chống thất học của Hồ Chủ tịch, chính quyền và Mặt trận Việt Minh các cấp đã phát động một cao trào bình dân học vụ với nhiều hình thức phong phú, sinh động, khích lệ tinh thần học tập. Vì vậy đến năm 1949 hầu hết nhân dân lao động các xã đều biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Ngày nay, sự nghiệp giáo dục tiếp tục được duy trì và phát triển với các phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt”, nhiều học sinh của huyện Lạng Giang đã thi đạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia, đạt điểm cao trong các kỳ thi đại học. Lạng Giang có nhiều tiến sĩ, nhà giáo ưu tú, hàng ngàn người có trình độ thạc sĩ, đại học đã làm rạng rỡ, tô thắm thêm truyền thống văn hiến của quê hương.

Truyền thống văn hóa của nhân dân các dân tộc Lạng Giang là thành quả hàng ngàn năm lao động sáng tạo đấu tranh kiên cường xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước, là kết quả giao lưu và hội tụ bởi văn hóa của nhiều dân tộc trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và trong cộng đồng dân tộc Việt. Truyền thống văn hóa của nhân dân Lạng Giang không ngừng phát huy, phát triển, góp phần tích cực thực hiện nhiệm vụ chính trị và nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo và có chuyển biến trên nhiều mặt. Tự hào về truyền thống của quê hương, đất nước, nhân dân Lạng Giang đã và đang ra sức quyết tâm xây dựng cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc.

CHƯƠNG I. LẠNG GIANG DƯỚI ÁCH ÁP BỨC BÓC LỘT CỦA THỰC DÂN PHONG KIẾN VÀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH TIẾN TỚI KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

I. Chế độ bóc lột tàn khốc của thực dân Pháp và phong trào yêu nước chống Pháp trước khi có Đảng ở Lạng Giang

Là một vùng đất có bề dày truyền thống bất khuất, kiên cuờng chống ngoại xâm, ngay khi thực dân Pháp xâm lược, nơi đây đã là một trong những địa phương chống Pháp quyết liệt. Đặc biệt là phong trào nông dân do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo.

Sau khi nhà Nguyễn ký điều ước cuối cùng trao quyền thống trị cho thực dân Pháp(1884), ngày 10-10-1895, thực dân Pháp chia Bắc Ninh thành 2 tỉnh: Bắc Ninh và Bắc Giang. Tỉnh Bắc Giang thành lập, lấy phủ lỵ Lạng Giang (phủ Lạng Thương) để đặt tỉnh lỵ. Đến trước cách mạng tháng 8-1945, phủ Lạng Giang gồm 13 tổng: Cần Dinh, Đa Mai, Thọ Xương, Đào Quán, Dĩnh Kế, Thịnh Liệt, Lan Mẫu, Trí Yên, Mỹ Cầu, Phi Mô, Mỹ Thái, Thái Đào, Xuân Đám. Cùng với việc điều chỉnh về địa giới và đơn vị hành chính, thực dân Pháp từng bước hoàn thiện bộ máy thống trị. Ở cấp xã, chính quyền thực dân duy trì thiết chế phong kiến, nhằm cai trị người dân và huy động thuế, phu...Do ở vị trí chiến lược quan trọng lại có nhiều thành luỹ, phủ Lạng Giang có nhiều quân đội đồn trú. Phủ Lạng Giang là một trong những nơi thực dân Pháp triển khai những hoạt động khai thác thuộc địa sớm nhất ở Bắc Kỳ. Tuyến đường sắt phủ Lạng Thương- Lạng Sơn và tuyến đường thuộc địa số 1 (Quốc lộ 1) được xây dựng.

Chúng còn cướp đất lập đồn điền, chúng lập được trên 3.000 ha ruộng đất trên huyện. Để mở rộng đồn điền, từ năm 1902, thực dân Pháp bắt dân đi phu, tạp dịch để xây dựng công trình thuỷ nông Kép. Năm 1908, công trình hoàn thành, đến năm 1913 được mở rộng và năm 1914 hoàn chỉnh với hệ thống đập Cầu Sơn và gần 33km kênh đào chính, 32km mương và khoảng 300km kênh dẫn nước nhỏ, tưới cho 7.500ha. Người đi phu trên các công trường bị cưỡng bức lao động quá sức, bị hành hạ vô cùng tàn nhẫn.

Chính sách cai trị của thực dân Pháp làm biến đổi xã hội Việt Nam. Từ một xã hội phong kiến trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Đời sống kinh tế, văn hoá có những thay đổi sâu sắc. Nông dân mất ruộng đất họ tới các công trường làm việc bán sức lao động, trở thành những “cu li” làm đường, đời sống hết sức khó khăn. Các thứ thuế đánh vào người dân (thuế đinh, thuế điền, sưu dịch và binh dịch…) ngày càng khắc nghiệt hơn và bằng những thủ đoạn thâm hiểm hơn. Thuế điền thổ mỗi năm một tăng. Số thuế của phủ Lạng Giang qua các năm chứng minh điều đó:

                                                                              (Đơn vị tính: kilôgram)

1937

1938

1939

1940

1941

1942

1943

1944

94.743,63

96.394

97.942

105.128

101.684

106.451

152.178

240.398

Qua bảng thống kê trên cho thấy, số thuế điền thổ năm 1944 so với năm 1937 của phủ Lạng Giang tăng 2,5 lần.

Về văn hoá, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân làm cho 90% dân số mù chữ; số trường mở trong huyện không quá 10 trường với số học sinh gần 1.000 người. Do hậu quả của chính sách vơ vét bóc lột của thực dân Pháp và tay sai cùng với thiên tai liên tiếp, đời sống của nhân dân Lạng Giang đã khổ lại khổ hơn, vì vậy họ đã đứng lên đấu tranh.

Ngày 03-4-1892, công nhân công trường đường sắt Lạng Sơn cùng với nghĩa quân tập kích đội quân do tên đội Môeixơ chỉ huy trên đường Suối Ghềnh đi Bắc Lệ.  Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Lạng Giang và phong trào đấu tranh cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là mảnh đất tốt để chủ nghĩa Mác -Lênin rọi chiếu vào, nhanh chóng nảy mầm và khai hoa kết trái.

II. Tổ chức Đảng ra đời lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng ở địa phương

1. Hoạt động của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên

Giữa lúc dân tộc Việt Nam đang chìm đắm trong đêm dài nô lệ thì lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã xác định con đuờng cứu nước chân chính của cách mạng Việt Nam, đó là chủ nghĩa Mác-Lênin. Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tháng 6-1925, Người lập ra Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên nhằm tập hợp, mở các lớp huấn luyện cho thanh niên từ trong nước gửi sang để giác ngộ chủ nghĩa cộng sản rồi đưa về nước hoạt động. Từ cuối năm 1926 đầu năm 1927, một số thanh niên yêu nước ở Bắc Giang đã sang dự học các lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu (Trung Quốc). Cuối năm 1927, đồng chí Ngô Gia Tự- Bí thư Tỉnh hội Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên Bắc Ninh- Bắc Giang lên phủ Lạng Thương gây dựng cơ sở. Đầu năm 1928, Chi hội Việt Nam cách mạng Thanh niên đầu tiên của tỉnh Bắc Giang ra đời tại phủ Lạng Thương. Cuối năm 1928, thực hiện chủ trương “vô sản hoá” đồng chí Nguyễn Văn Mẫn đi vào vùng mỏ than Mạo Khê, Ngô Gia Chinh vào nhà máy gạch Hưng Ký (Yên Viên)… Cuối năm 1929, phong trào cách mạng trong tỉnh bị địch khủng bố, cán bộ đảng viên trong đó toàn bộ Ban Tỉnh uỷ sa vào tay địch.

Ngày 03-02-1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Ngay sau khi thành lập, Đảng lãnh đạo cao trào cách mạng trong toàn quốc, mà đỉnh cao là Xô Viết- Nghệ Tĩnh. Nhưng sau đó bị địch khủng bố. Năm 1935, Đảng tổ chức đại hội lần thứ nhất. Khi chủ nghĩa phát xít xuất hiện, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương đảng (7-1936) vạch rõ mục tiêu trước mắt là chống chủ nghĩa đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hoà bình…

Năm 1936, Mặt trận Nhân dân Pháp giành thắng lợi lớn trong cuộc tổng tuyển cử, thi hành nhiều chính sách tiến bộ ở thuộc địa. Nhiều cán bộ, đảng viên ra khỏi ngục tù đế quốc. Trong thời kỳ mặt trận dân chủ nhân dân Lạng Giang tích cực tham gia vào các hoạt động chung do Đảng phát động. Cử đại biểu đi Hà Nội dự mít tinh kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1-5-1938.

Tháng 7-1938, diễn ra cuộc vận động tranh cử vào Viện dân biểu Bắc Kỳ. Ta đưa Nguyễn Trung Tẩy- một công chức cấp tiến có cảm tình với cách mạng ra tranh cử với Ngô Tiến Cảnh- một tư sản mại bản. Mặc dù không giành thắng lợi, nhưng ta đã tranh thủ giới thiệu trước quần chúng chương trình hành động của Mặt trận Dân chủ và đường lối cách mạng của Đảng.

Đấu tranh trên lĩnh vực báo chí được tổ chức ở ấp Tam Sơn, nhiều tờ báo của Đảng được phổ biến rộng rãi. Để chống lại chính sách văn hoá nô dịch của thực dân Pháp, nâng cao dân trí cho nhân dân lao động, ở Bắc Giang phong trào truyền bá quốc ngữ phát triển mạnh. Nhất là ở phủ Lạng Thương sau đó lan ra nhiều xã ở Lạng Giang, Lục Nam, Hiệp Hoà, Yên Thế… Qua phong trào, đã có hàng trăm người ở Lạng Giang biết đọc, biết viết.

Cuối năm 1938, Chi bộ phủ Lạng Thương thành lập do đồng chí Vương Văn Trà làm Bí thư. Chi bộ có vai trò như một Ban cán sự Đảng của tỉnh Bắc Giang, lãnh đạo phong trào cách mạng tỉnh Bắc Giang trong những năm cuối của thời kỳ vận động dân chủ. Nhiều đảng viên của Chi bộ đã đi xây dựng cơ sở ở Đại Từ, Thép Thượng (Lục Nam), An Tràng, Đào Tràng, ấp Tam Sơn…

Tháng 9-1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Tháng 9-1940, Nhật vào Đông Dương, Pháp đầu hàng Nhật. Nhân dân Việt Nam phải sống trong cảnh “một cổ hai tròng”. Trước những chuyển biến mới, Trung ương Đảng kịp thời thay đổi chiến lược cách mạng. Thực hiện Nghị quyết Trung ương (11-1939) về quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương. Từ giữa năm 1940, tổ chức thanh niên phản đế được xây dựng ở An Tràng, Đào Tràng…phụ nữ phản đế được xây dựng ở Hương Gián, nông dân phản đế ở Hương Gián, Phi Mô…

Để ủng hộ cho khởi nghĩa Bắc Sơn, tháng 10-1940, Ban cán sự tỉnh Bắc Giang họp Hội nghị. Sau Hội nghị, truyền đơn, áp phích hô hào ủng hộ khởi nghĩa Bắc Sơn được rải từ Hương Gián đến chợ Sàn, chợ Quất Lâm. Nhiều cuộc mít tinh nhỏ được tổ chức ở phố Giỏ, phố Kép, Xuân Phú…để quyên góp tiền, gạo, quần áo cho du kích Bắc Sơn. Trong những năm 1938-1940, phong trào cách mạng Bắc Giang nói chung, Lạng Giang nói riêng được cấp trên quan tâm chỉ đạo. Hệ thống cơ sở vì vậy được xây dựng khá rộng. Đầu năm 1941, hệ thống cơ sở cách mạng ở Lạng Giang có bước phát triển thúc đẩy sự hình thành phong trào cách mạng ở ấp Tam Sơn, Phi Mô, Quảng Mô, Làng Bừng Tân Thanh

Sau khi xâm chiếm Việt Nam, phát xít Nhật nắm mọi quyền hành nhưng vẫn sử dụng Pháp làm tay sai để cai trị Đông Dương. Nắm được hoạt động cách mạng ở Lạng Giang, cuối năm 1941, chính quyền Pháp- Nhật tiến hành đàn áp ấp Tam Sơn. Chúng tìm thấy súng, lựu đạn và bắt nhiều cán bộ, đảng viên, nhiều cơ sở bị địch phá.

Tháng 9-1941, Hội nghị Trung ương 8 được triệu tập do Nguyễn Ái Quốc chủ trì. Dưới sự lãnh đạo của Ban cán sự tỉnh Bắc Giang, nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 sớm về tới địa phương và được tăng cường cán bộ, cơ sở cách mạng ở Lạng Giang từng bước được khôi phục.

Từ cuối năm 1943, ban cán sự tỉnh Bắc Giang chủ trương mở rộng cơ sở theo 2 hướng:

(1) Từ thị xã Phủ Lạng Thương theo quốc lộ 13B(nay là đường 31), đi Lục Ngạn, Sơn động.(2) Theo quốc lộ 1A lên Kép. Ở hướng đường 13B, cơ sở phát triển lên Thái Đào, Quất Lâm...Ở hướng đường 1A, cơ sở đã có ở Mỹ Thái, Quảng Mô, Kép, Bừng..Ở khu vực này một số cán bộ hoạt động ở Yên Thế đã sang đây bắt mối, gây dựng cơ sở, như các đồng chí Hà Thị Quế, Hoàng Hải, Hoàng Quốc Thịnh...Năm 1943, các xã Phi Mô, Tân Dĩnh (gồm 3 xã là Dĩnh Xuyên, Dĩnh Lục, Dĩnh Cầu), Xương Lâm (gồm 2 xã cũ là Lễ Nhượng, Liên Xương) thành lập Chi bộ đảng, gồm 9 đảng viên. Đồng chí Hoàng Quốc Việt thường xuyên đi lại chỉ đạo phong trào, gây dựng cơ sở cách mạng.

Vào Đông Dương, phát xít Nhật cùng với thực dân Pháp ra sức áp bức bóc lột nhân dân ta. Từ năm 1943, chúng huy động hàng nghìn phu để xây dựng khu quân sự Cầu Lồ (nay thuộc Lục Nam) và xây dựng sân bay Kép, hai nơi này rộng tới 796ha; trong đó có gần 300ha ruộng của 9 xã. Do vậy nhiều nơi quần chúng nhân dân đã đứng lên đấu tranh. Năm 1943, ở Lạng Giang đã có hàng chục cuộc đấu tranh với những hình thức rất phong phú.

Năm 1944, số cuộc đấu tranh tăng hơn năm 1943, mức độ quyết liệt hơn, tiêu biểu là cuộc đấu tranh của nhân dân khu vực kép và Cầu Lồ chống Nhật cướp đất xây dựng sân bay Kép và khu quân sự Cầu Lồ. Tháng 8-1944, nhân dân đấu tranh chống Nhật cắm đất để xây dựng sân bay Kép và khu quân sự Cầu Lồ. Ban cán sự tỉnh Bắc Giang cho rải truyền đơn kêu gọi nhân dân chống Nhật chiếm ruộng đất, bồi thường thiệt hại về nhà cửa, hoa màu, không đi làm phu cho Nhật. Hưởng ứng lời kêu gọi của Ban cán sự tỉnh, nhân dân các làng Má, Ngang, Dinh, Nội thuộc tổng Cần Dinh ở gấn sân bay Kép và một số làng ở gần khu quân sự Cầu Lồ kiên quyết giữ làng, giữ đất. Thực hiện chương trình cứu nước của Mặt trận Việt Minh, phong trào cách mạng Lạng Giang đã trưởng thành thêm một bước, tạo điều kiện tiến lên cao trào kháng Nhật, cứu nước, khởi nghĩa giành chính quyền.

2. Lãnh đạo nhân dân đấu tranh trong cao trào kháng Nhật, cứu nước và tiến lên giành chính quyền

Cuối năm 1944 đầu năm 1945, chiến tranh thế giới thứ 2 bước vào giai đoạn chót. Ngày 9-3-1945 Nhật đảo chính Pháp độc chiếm Đông Dương. Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương ra Chỉ thị “Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Hội nghị phát động một cao trào kháng nhật cứu nước. Chỉ thị của trung ương đã nhanh chóng về đến Lạng Giang.

Trận đánh ở ngã ba miếu Thị Trinh (xã Thái Đào) ngày 01-7-1945 của tự vệ tổng Lan Mẫu phối hợp với tự vệ tổng Sơn Đình (phủ Lục Ngạn) và cứu quốc quân đã bắn hỏng một xe ô tô, tiêu diệt một số quân Nhật đi trên xe. Đây là trận tấn công đầu tiên của ta vào lực lượng quân đội Nhật ở Bắc Giang.

Đến giữa tháng 8-1945, chính quyền địch bị thủ tiêu ở các xã, toàn thể nhân dân Lạng Giang cùng với nhân dân trong tỉnh gấp rút chuẩn bị vùng dậy giành chính quyền ở tỉnh.

Ngày 14-8-1945, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, thời cơ “ngàn năm có một” đã đến. Đêm ngày 17-8-1945, đồng chí Hà Thị Quế, Uỷ viên Ban cán sự tỉnh, trực tiếp chỉ đạo một lực lượng vũ trang đột nhập làng Gai thuyết phục Chánh Triệu theo cách mạng, ta tịch thu 20 khẩu súng.

Rạng sáng ngày 18-8-1945, Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Đĩnh phải đầu hàng. Phối hợp với cuộc khởi nghĩa ở tỉnh, cán bộ phụ trách các khu vực Lạng Giang, Việt Yên, Yên Thế, Yên Dũng đã huy động tự vệ chiến đấu và quần chúng tiến về phủ Lạng Thương hỗ trợ. Ngày 18-8-1945, chính quyền địch ở Lạng Giang sụp đổ. Cuối tháng 8-1945, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện Lạng Giang ra đời; đồng chí Ngô Văn Chất làm Chủ tịch.

Nhân dân Lạng Giang đã hòa cùng toàn dân tộc trong cuộc cách mạng “long trời lở đất”, đập tan xiềng xích của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đưa nước ta bước vào kỷ nguyên của độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

(2) Lãnh đạo xây dựng và bảo vệ chế độ mới, chuẩn bị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945- 1949)?

CHƯƠNG II. LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHẾ ĐỘ MỚI, CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945- 1949)

I. Lãnh đạo công cuộc xây dựng, củng cố và bảo vệ chính quyền (1945-1946)

Sau cách mạng tháng Tám, nhân dân huyện Lạng Giang cùng cả nước thực sự được sống trong nền độc lập, tự do. Nhưng nền độc lập còn trong trứng nước, nhân dân lại phải đương đầu với bao khó khăn: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm và bọn phản động. Vận mệnh tổ quốc trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.

Tại Bắc Giang, có khoảng 2.000 quân Tưởng đóng. Trên địa bàn Lạng Giang, quân Tưởng đóng ở Kép và Vôi. Theo sau Tưởng là bọn tay sai Việt Quốc, Việt Cách chúng ra sức chống phá ta, gây rối trật tự an ninh. Tại những phiên chợ Vôi, chợ Giỏ…quân Tưởng kéo đến tung tiền mất giá (Quan Kim) ra mua hàng. Do hậu quả của chính sách vơ vét, bóc lột của thực dân, phát xít nên đời sống nhân dân Lạng Giang vô cùng khó khăn, thiếu đói thường xuyên xảy ra. Về văn hóa: 90% dân số Lạng Giang bị mù chữ, tệ nạn xã hội tràn lan.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ Bắc Giang, chính quyền và nhân dân Lạng Giang nhận thấy rõ nhiệm vụ cấp bách sau độc lập: chống giặc ngoại xâm, giặc đói, giặc dốt, xây dựng chế độ mới, bảo vệ thành quả cách mạng giành được. Tháng 10-1945, Hội nghị đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang họp ở đình làng Đìa Đông (Dĩnh Trì) chủ trương: đấu tranh hợp pháp với Tưởng, dẹp bọn Việt Quốc, tiễu trừ thổ phỉ. Chính quyền cách mạng vừa lo chỗ ở cho quân Tưởng, động viên nhân dân bán lương thực, thực phẩm để cung cấp cho chúng. Mặc dù ta tỏ rõ thiện chí, thân thiện với Tưởng nhưng ỷ thế Đồng minh, chúng vẫn kiếm cớ gây sự với ta. Chúng kiếm cớ bắt giam đồng chí Hùng Sơn (Đại đội trưởng vệ quốc đoàn) và đồng chí Nguyễn Văn Ái (còn gọi là Quản Ái, người Đào Quán, nay là Đào Mỹ) chỉ huy tự vệ. Đối với bọn phản động, ta phân hóa để có biện pháp xử trí phù hợp, vừa tuyên truyền thuyết phục những người nhẹ dạ bị mua chuộc. Ở Cần Dinh, 20 gia đình bị cưỡng ép theo phỉ đã trở về quê cũ làm ăn. Những tên ngoan cố chống lại nhân dân, ta kiên quyết trừng trị. Ngày 28-1-1946, tự vệ Tiên Lục, Đào Quán, Cần Dinh phối hợp với Vệ quốc đoàn bao vây tiêu diệt bọn phỉ ở Hố Cao do tên Tầu Đeng cầm đầu, tiêu diệt 13 tên và thu 13 khẩu súng các loại. Cũng trong thời gian này, tại Bến Lường, 10 tự vệ đã đánh tan một toán phỉ 49 tên, tiêu diệt tại chỗ một số tên.

Với sách lược đấu tranh khôn khéo, các tổ chức Đảng và nhân dân Lạng Giang đã giành thắng lợi trên mặt trận chống giặc ngoài, thù trong, đánh bại âm mưu đánh phá cách mạng của quân Tưởng và tay sai.

Đầu năm 1946, Chi bộ Đảng chỉ đạo các xã thành lập đội tự vệ. Nhiều tự vệ đã xung phong vào đoàn quân đi chiến đấu ở miền Nam, trong quá trình chiến đấu nhiều đồng chí đã trưởng thành.

Ngày 28-2-1946, Hiệp ước Hoa- Pháp được ký kết ở Trùng Khánh, quân Pháp thay thế Tưởng ra miền Bắc, quân Tưởng rút về nước. Trước tình thế đó ta thực hiện chủ trương “Hoà để tiến” bằng việc ký Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946). Theo hiệp định, ngày 7-6-1946, quân Tưởng rút khỏi Bắc Giang. Để giải quyết khó khăn tài chính, chính phủ kêu gọi tinh thần đóng góp tự nguyện, tổ chức “Quỹ độc lập” và phát động “Tuần lễ vàng”. Hưởng ứng chủ trương trên nhân dân Lạng Giang tự nguyện đem vàng, bạc, đồ dùng quý đến trụ sở uỷ ban hành chính địa phương ủng hộ chính phủ. Hưởng ứng chủ trương này, nhân dân có câu ca dao:

“Người còn thì của cũng còn; Nhà tan, nước mất vàng son làm gì...”

1. Lãnh đạo công tác cứu đói, tăng gia sản xuất

Uỷ ban hành chính và mặt trận Việt Minh Lạng Giang vận động nhân dân tham gia phong trào “Ngày đồng tâm” và “Hũ gạo cứu đói”. Chính quyền còn phát động phong trào tăng gia sản xuất. Diệt giặc dốt, nâng cao đời sống văn hoá xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Để xoá mù chữ có phong trào Bình dân học vụ, trường học ở nhiều xã được hình thành. Một số nơi còn xuất hiện ca dao, bài vè như:                                               

“Lấy chồng biết chữ là tiên; Lấy chồng mù chữ là duyên con bò”

Công tác xây dựng đời sống văn hoá mới được chú trọng. Phong trào văn hoá, văn nghệ phát triển, góp phần xây dựng đời sống văn hoá mới. Xã Phi Mô, làng nào cũng có đội văn nghệ, nhiều xã còn thành lập ban văn hoá. Công tác y tế được đẩy mạnh. Do làm tốt công tác vệ sinh phòng bệnh, các dịch đau mắt hột, tả, sốt rét... bị đẩy lùi.

2. Xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân

Ngày 6-1-1946, Tổng tuyển cử bầu Quốc hội trong cả nước. Sau bầu cử Quốc hội, ngày 5-7-1946, nhân dân Lạng Giang bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh và đại biểu hội đồng nhân dân xã. Đảng bộ Lạng Giang thành lập, đẩy mạnh công tác xây dựng và phát triển đảng, lãnh đạo công tác vận động quần chúng. Cuối năm 1946, Ban chấp hành Đảng bộ Lạng Giang thành lập do đồng chí Dương Quốc Cẩm làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Trọng Hoa làm Chủ tịch, đồng chí Ngô Duy Phương làm chủ nhiệm Việt Minh. Đảng bộ tiếp tục tăng cường xây dựng tổ chức đảng, phát triển đảng viên mới, qua đó góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển.

Đảng bộ lãnh đạo Mặt trận và các đoàn thể quần chúng đẩy mạnh hoạt động: Đầu năm 1946, Liên hiệp công đoàn Lạng Giang được thành lập. Công nhân viên chức và công đoàn Lạng Giang đã thể hiện là lực lượng tiên phong có ý thức tổ chức kỷ luật cao, sẵn sàng hy sinh vì quyền lợi của đất nước. Đoàn thanh niên cứu quốc có bước trưởng thành. Đội ngũ đoàn viên đông đảo, xung phong đi đầu trong các phong trào thi đua lao động sản xuất, dân quân du kích xung phong lên đường vào Nam chiến đấu. Đầu năm 1946, Ban chấp hành Phụ nữ Lạng Giang hình thành. Hội Phụ nữ làm tốt công tác hội, tập hợp đông đảo chị em vào hội, đẩy mạnh phong trào phụ nữ. Tổ chức Nông hội có bước phát triển về tổ chức. Đến đầu năm 1949, tổ chức Nông hội có hàng nghìn hội viên.

II. Đẩy mạnh tăng gia sản xuất và tiết kiệm, đóng góp sức người sức của cho kháng chiến (1947-1949)

Thực hiện đường lối xây dựng nền kinh tế kháng chiến của Đảng: vừa kháng chiến vừa kiến quốc, coi trọng sản xuất nông nghiệp và thực hành tiết kiệm, tự cung, tự cấp, đảng bộ chủ trương động viên, khuyến khích các ngành, các giới, các gia đình, đơn vị bộ đội tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Ngay sau cách mạng Tháng Tám, chính quyền cách mạng đã tịch thu ruộng đất của chủ đồn điền Hoàng Tôn Vinh (tức Lý Ma), Đỗ Thúc Phách…để chia cho nông dân. Năm 1948, hội nghị tá điền đấu tranh với điền chủ Ngô Thế Loan và Vương Đình Châu được tổ chức, yêu cầu điền chủ phải triệt để giảm tô 25% cho tá điền. Ở Cần Dinh, Ban chấp hành Nông hội đã vận động Đặng Đình Thiềm bỏ ra 10 mẫu ruộng để chia cho nông dân thiếu ruộng. Nông dân được chia ruộng đất, được giảm tô, được miễn giảm nhiều loại thuế nên phấn khởi, ra sức tăng gia sản xuất. Năm 1947-1948, các xã được mùa lớn là Tiên Lục, Mỹ Thái, Tân Hưng, Đào Quán. Diện tích lúa và hoa màu của Lạng Giang tăng, sớm đẩy lùi được nạn đói, từng bước đẩy mạnh chăn nuôi trâu, bò, lợn…

Ngày 25-3-1948, Chính phủ ra Sắc lệnh số 148/SL quy định bãi bỏ các danh từ phủ, châu, quận cấp trên xã và dưới tỉnh, gọi là cấp huyện, cũng từ đó có tên huyện Lạng Giang.

Chấp hành Chỉ thị ngày 22-12-1948 của Ban thường vụ trung ương Đảng về động viên nhân lực, vật lực, tài lực, thực hiện kháng chiến toàn dân, toàn diện. Từ năm 1947-1949, nhiều xã nhân dân vừa bán thóc quân lương vừa ủng hộ bộ đội được một khối lượng khá lớn: xã An Hà (Bình An, Liệt Hạ) 268.704kh, Dĩnh Trì: 3.680kg. Đại Lâm: khoảng 3 tấn. năm 1948, 1949, Chính phủ phát động Công phiếu kháng chiến, nhân dân Lạng Giang đã hăng hái mua với số tiền hàng trăm vạn đồng.

1. Xây dựng lực lượng, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quê hương

Ngày 19-12-1946, quân dân phủ Lạng Thương đã nổ súng kiên cưòng đánh địch. Hưởng ứng Lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Lạng Giang đã đoàn kết đứng lên chống Pháp. Địch ngoan cố chống lại nhưng không thể kháng cự nổi trước sức chiến đấu quyết liệt của quân và dân ta, sáng 24-12-1946, quân Pháp buộc phải rút chạy.

2. Thực hiện tiêu thổ kháng chiến

Thực hiện “Lời kêu gọi phá hoại để kháng chiến” ngày 6-2-1947 của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chủ trương tiêu thổ kháng chiến của tỉnh Bắc Giang, nhân dân lạng Giang ra sức phá cầu cống, đường sá, đóng cọc, đắp ụ đất có cọc sắt trên đường... cản bước tiến của quân thù, tự nguyện phá đình, chùa, nhà thờ, nhà ở nhằm làm cho địch không có nơi để trú quân, tạo điều kiện cho quân ta tiêu diệt địch. Thực hiện Sắc lệnh số 47/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân du kích được thành lập, hăng hái luyện tập, sẵn sàng chiến đấu và tích cực tuần tra canh gác bảo vệ trật tự trị an. Thực hiện sắc lệnh ngày 20-12-1946, về việc thành lập uỷ ban kháng chiến, đầu năm 1947, Lạng Giang thành lập Uỷ ban kháng chiến làm việc bên cạnh uỷ ban hành chính. Cuối năm 1947, hai uỷ ban này sáp nhập thành uỷ ban kháng chiến- hành chính do đồng chí Nguyễn Trọng Hoa làm chủ tịch.

Nhằm bảo vệ Đảng, chính quyền, lực lượng công an huyện Lạng Giang ra đời, quận công an huyện thành lập gồm 23 cán bộ, chiến sỹ.

Tháng 8-1948, lần đầu tiên Đảng bộ Lạng Giang tổ chức Hội nghị toàn Đảng bộ tại xóm Nguộn, xã Dĩnh Trì. Hội nghị phát động toàn dân tăng gia sản xuất và tích cực đóng góp cho kháng chiến. Tăng cường củng cố và phát triển lực lượng vũ trang nhân dân. Lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu trong dân quân, du kích và tiếp tục công tác củng cố và phát triển Đảng...Cùng với việc xây dựng Đảng về tổ chức, Đảng bộ Lạng Giang tăng cường công tác tư tưởng, tuyên truyền sâu rộng đường lối kháng chiến, bồi dưỡng chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

(3) Thực hiện kháng chiến toàn dân, toàn diện, giải phóng quê hương (1949- 1954)?

CHƯƠNG III. THỰC HIỆN KHÁNG CHIẾN TOÀN DÂN, TOÀN DIỆN, GIẢI PHÓNG QUÊ HƯƠNG (1949- 1954)

Tháng 5-1949, được sự giúp đỡ của Mỹ, Pháp thực hiện kế hoạch Rơnevơ. Tháng 7-1949, Pháp chiếm huyện Việt Yên và thị xã Phủ Lạng Thương (thuộc huyện Lạng Giang). Đảng bộ, quân và dân Lạng Giang đã đem hết tinh thần, nghị lực, vượt lên tất cả mọi gian nan, thử thách và hy sinh, tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Từ giữa tháng 7 đến tháng 12-1949, sau các trận càn quét địch đã đóng chốt trên địa phận phía Nam huyện Lạng Giang. Ngoài ra địch còn tiến hành bắn giết trâu, bò, vơ vét, đốt phá thóc lúa và dụng cụ sản xuất, ra sức tuyên truyền, lừa bịp, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân. Cuộc đấu tranh trên mặt trận kinh tế giữa ta và địch diễn ra quyết liệt. Quân và dân Lạng Giang đẩy mạnh xây dựng nền kinh tế kháng chiến, tự túc các nhu cầu thiết yếu, vừa đánh địch, vừa sản xuất.

Trước tình hình cuộc kháng chiến diễn ra quyết liệt, trung tuần tháng 7-1949, đảng bộ tỉnh Bắc Giang tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ II tại đình Cổ Trang (Bo Giầu, nay thuộc xã Nghĩa Hưng, huyện Lạng Giang). Ngay sau ngày quân Pháp tiến công chiếm đóng thị xã Phủ Lạng Thương, Huyện uỷ Lạng Giang đã họp Hội nghị khẩn cấp tại làng Bừng, xã Tân Ái (nay là xã Tân Thanh). Thực hiện chủ trương của Huyện uỷ, bộ đội địa phương quân huyện và du kích các xã lân cận thị xã đã bao vây, quấy rối và đột nhập vào vị trí của địch, đốt phá và tiêu hao sinh lực địch.

Trong những ngày 30, 31-7 và ngày 01, 02-8-1949, địch càn lớn vào các xã trong huyện, quân và dân Lạng Giang chiến đấu anh dũng và giành thắng lợi. Để tăng cường lãnh đạo cuộc kháng chiến toàn diện, Huyện uỷ chỉ đạo các chi bộ đẩy mạnh công tác phát triển Đảng. Đảng bộ Lạng Giang có bước phát triển mới. Cuối năm 1949, Đảng bộ huyện tổ chức Hội nghị tại Ao Gáo (Bến Trăm) trong 2 ngày, tập trung lãnh đạo nhân dân ra sức đánh địch, đẩy mạnh sản xuất, đẩy mạnh cấp dưỡng cho bộ đội, tổ chức việc học bình dân ban đêm...Thực hiện sự chỉ đạo của Huyện uỷ, nhân dân tích cực đóng góp tiền, gạo, quần áo...để cấp dưỡng cho bộ đội địa phương và trung đội du kích. Cuối năm 1949, toàn huyện có trên 90% số người đi học được công nhận thoát mù chữ.

Ngày 14-7-1949, chính phủ ra sắc lệnh quy định giảm tô, xoá bỏ các loại địa tô phụ, thủ tiêu chế độ qúa điền và lập hội đồng giảm tô cấp tỉnh. Đến năm 1949, toàn huyện đã có 90% địa chủ thực hiện giảm tô. Phong trào “rèn cán chỉnh quân” dưới sự chỉ đạo của Huyện uỷ cũng được tiến hành khẩn trương. Lực lượng du kích và bộ đội địa phương phát triển cả về số lượng và chất lượng.

Bước sang năm 1950, chiến sự diễn ra ác liệt. Ta và địch giằng co, địch càn quét, ta chống càn quét, địch lập tề và bảo an, ta phá tề và bảo an.

Ngay từ ngày 01-01-1950, Huyện uỷ thành lập ban lãnh đạo phá tề diệt bảo an. Ngày 03-02-1950, huyện phát động chiến dịch phá tề, diệt bảo an. Các xã trong huyện vùng tự do cũng như vùng sát địch đều tổ chức mít tinh hưởng ứng, khí thế của chiến dịch rất sôi nổi. Du kích nhiều xã đã anh dũng đánh địch như: du kích xã Tân Thái, Mỹ Thái, Phi Mô. Sáu tháng cuối năm 1950, nhất là từ tháng 9, địch bị thất bại liên tiếp trên các mặt trận. Đặc biệt là với chiến thắng biên giới, quân và dân ta đẩy Pháp lún sâu vào thế bị động. Ở Bắc Giang, địch điều thêm quân cơ động, nhưng vì ở thế bị động, tinh thần binh lính hoang mang, nên ở Lạng Giang địch phòng thủ, co cụm. Trên địa bàn Lạng Giang, địch lập nhiều tháp canh, trạm gác và hoạt động mạnh dọc đường 13B. Đường 13 có vị trí hết sức quan trọng, nếu đường 13 bị vít chặt là cắt đứt sự lãnh đạo và sự chi viện giữa hậu phương và tiền tuyến.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ Bắc Giang, thi đua giết giặc lập công chào mừng ngày cách mạng tháng Tám và ngày Quốc khánh 2-9, Huyện uỷ Lạng Giang phát động chiến dịch tổng phá tề, diệt bảo an ở toàn bộ các xã vùng tạm bị địch chiếm. Ngày 23-8, 12 du kích xã Tân Dân đột nhập thôn Thượng Đào Tràng, diệt và làm bị thương nặng 14 tên tề phản động. Ngày 24-9, trung đội du kích xã Tân Thái chống càn thắng lợi, chặn đánh quyết liệt 120 tên địch, bắn bị thương 3 tên, buộc địch phải rút chạy. Đêm cùng ngày, Đại đội 533 bộ đội địa phương quân huyện phối hợp với du kích các xã Phi Mô, Mỹ Thái phá tề, diệt, làm bị thương và bắt sống một số tên nguỵ quyền phản  động. Tháng 11, bộ đội địa phương huyện và du kích các xã ven đường 13B tổ chức nhiều đợt phục kích tuần tiễu trên đường và quấy rối các bốt, tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, bảo vệ đường giao thông của ta, bảo vệ dân. Ngày 12-11, du kích xã Tân Thái chiến đấu dũng cảm, chống càn thắng lợi, đánh lui nhiều đợt tấn công của địch có đại bác yểm trợ, bảo vệ được xóm làng. Thắng lợi to lớn của quân và dân ta trong chiến dịch Biên giới thu- đông 1950 mở ra bước phát triển mới của cuộc kháng chiến, ta chủ động tiến công địch.

Tháng 12-1950, chính phủ Pháp phái Đờlát Đờ Tatxinhi làm tổng chỉ huy quân viễn chinh kiêm cao uỷ Pháp ở Đông Dương. Đờlát Đờ Tatxinhi thực hiện chiến lược “chiến tranh tổng lực, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, hòng đè bẹp lực lượng của ta, nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Giữa năm 1951, Hội nghị đại biểu Đảng bộ huyện được tiến hành ở làng Phan, xã Thịnh Liệt, đề ra nhiệm vụ về quân sự, kinh tế, hành chính, văn hoá... động viên nhân dân toàn huyện, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đảng toàn quốc. Từ tháng 7-1951, tại nhiều vùng tạm chiếm, địch lập “vành đai trắng”. Ở Lạng Giang, “vành đai trắng” làm cho hàng chục nghìn mẫu ruộng bị bỏ hoang thuộc các xã dọc đường 13B. Địch còn ra sức càn quét vào vùng tự do Vôi, Kép, Chuông Vàng, Bến Tuần và vùng du kích phía Nam huyện, khủng bố, cướp phá thóc lúa, tài sản của nhân dân. Thực hiện quyết tâm phá “vành đai trắng”, Huyện uỷ thành lập các đội vũ trang tuyên truyền, luồn sâu vào các xã vùng địch tạm chiếm, để tuyên truyền, giải thích cho nhân dân hiểu rõ âm mưu của địch. Để gỡ thế bị động sau thất bại liên tiếp ở Biên giới, trung du và đồng bằng Bắc Bộ, tháng 11-1951, quân Pháp huy động lực lượng đánh chiếm Hoà Bình, Tu Vũ. Đối phó lại ta quyết định mở chiến dịch Hoà Bình và chỉ thị cho các địa phương đẩy mạnh hoạt động phối hợp với chiến trường chính. Thực hiện phối hợp hoạt động ở vùng sau lưng địch, trong chiến dịch Hoà Bình, Huyện uỷ Lạng Giang họp Hội nghị bàn biện pháp chỉ đạo quân và dân đẩy mạnh mọi hoạt động đánh địch. Quân và dân Lạng Giang đã góp một phần xứng đáng vào thắng lợi ở mặt trận Hoà Bình. Phong trào đòi hồi hương, đòi giải ngũ trong binh lính nguỵ lên cao. Ba trận đánh nổi bật của bộ đội và du kích huyện là các trận ngày 03-3, ngày 07-4, ngày 02-5-1952.

Trong 6 tháng đầu năm 1952, trên địa bàn huyện Lạng Giang địch co cụm trong các vị trí, không mở các cuộc càn quét lớn, chỉ mở các cuộc càn quét nhỏ và phần lớn các trận càn đều bị quân ta chặn đánh. Tháng 7-1952, Trung uơng Đảng và Tổng Quân uỷ mở Hội nghị rút kinh nghiệm chiến tranh du kích Bắc Bộ. Tại Hội nghị, quân và dân Lạng Giang được biểu dương và tặng thưởng nhiều huân chương. Thực hiện nhiệm vụ đánh địch phối hợp với chiến dịch Tây Bắc, thu đông 1952, quân và dân Lạng Giang, Tiểu đoàn 61 chủ lực tỉnh tích cực đánh địch trên vành đai.

Cuối tháng 3-1953, địch điều một lực lượng lớn, mở cuộc càn quét vào xã Tân Hưng và Cần Dinh, nhưng bị chặn đánh gây thiệt hại lớn phải rút lui. Ngày 24-7-1953, chính phủ Pháp thông qua kế hoạch quân sự Nava soạn thảo nhằm kết thúc chiến tranh trong danh dự. Tháng 9-1953, Bộ chính trị Trung uơng đảng họp và quyết định nhiệm vụ đông- xuân 1953-1954, tập trung sức phá tan kế hoạch Nava. Thực hiện chiến lược của Bộ chính trị, các chiến trường toàn quốc quân chủ lực liên tiếp mở những cuộc tấn công. Tại Lạng Giang địch phải rút vào thế bị động.

Thực hiện chiến đấu phối hợp với chiến trường chính trong chiến dịch Điện Biên Phủ, quân và dân Lạng Giang đã ra sức thi đua giết giặc lập công. Sau 55 ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt” chiến đấu dũng cảm, ngoan cường quân và dân ta tiêu diệt toàn bộ cứ điểm Điện Biên Phủ. Ngày 21-7-1954, thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh, công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Thi hành Hiệp định Giơnevơ, từ ngày 27-7 đến ngày 4-8-1954, toàn bộ lính viễn chinh Pháp lần lượt rút khỏi Bắc Giang. Ngày 4-8-1954, quê hương Lạng Giang sạch bóng quân xâm lược Pháp.

Trong 9 năm chiến đấu gian khổ và đầy hy sinh, vô cùng anh dũng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ và nhân dân Lạng Giang đã phát huy truyền thống yêu nước kiên cường, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, đưa địa phương cùng với miền Bắc bước sang một trang sử mới- vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa tiến hành kháng chiến chống đế quốc Mỹ bảo vệ quê hương.

(4) Lãnh đạo khôi phục và phát triển kinh tế- xã hội, cải tạo xã hội chủ nghĩa và thực hiện kế hoạch giai đoạn 1954- 1965?

CHƯƠNG IV. LÃNH ĐẠO KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI, CẢI TẠO XHCN VÀ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH GIAI ĐOẠN 1954-1965

I. Cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế (1954-1957)

Sau ngày 04-8-1954, quê hương hoàn toàn giải phóng. Uỷ ban quân quản các cấp kịp thời tiếp quản những vị trí địch vừa rút khỏi. Đảng bộ tiến hành đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thông tin phát huy tinh thần chiến thắng của 9 năm kháng chiến gian khổ trong thực hiện nhiệm vụ mới. Căn cứ vào nghị quyết của Bộ Chính trị, chủ trương của Tỉnh uỷ, Huyện uỷ Lạng Giang đã xác định hai nhiệm vụ trước mắt trong thời kỳ này là:

* Hoàn thành cải cách ruộng đất.

* Phục hồi kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, nhân dân Lạng Giang ra sức phát huy thuận lợi, khắc phục khó khăn để hoàn thành cải cách ruộng đất và khôi phục kinh tế quốc dân, góp phần đưa miền Bắc chuyển lên giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đến mùa hè năm 1955, cuộc cải cách ruộng đất ở Lạng Giang đã hoàn thành. Cải cách ruộng đất đã đem lại những kết quả to lớn và căn bản: Đánh đổ toàn bộ giai cấp địa chủ phong kiến (gồm 706 địa chủ). Thực hiện “Người cày có ruộng”. Hoàn toàn giải phóng người nông dân trong huyện khỏi ách áp bức bóc lột của phong kiến, đưa họ lên địa vị người chủ thực sự. Tuy nhiên, cũng như nhiều địa phương khác ở tỉnh Bắc Giang và miền Bắc nước ta, quá trình cải cách và chỉnh đốn tổ chức ở Lạng Giang cũng phạm phải những sai lầm nghiêm trọng như: quy thành phần theo định mức, quy tội trạng oan sai, sử dụng các hình thức đấu tố nhục mạ, trái với đạo lý truyền thống... gây tổn hại đến tổ chức Đảng, chính quyền, tác động tiêu cực tới khối đại đoàn kết toàn dân, tạo không khí nặng nề căng thẳng trong nhân dân.

Cuối năm1956 Đảng ta phát hiện những sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Hội nghị Trung ương (TW) lần thứ 10 đã tạo nên sự thống nhất tư tưởng và tổ chức, Đảng ta đã kịp thời khắc phục, nhanh chóng củng cố tổ chức, lấy lại được lòng tin trong quần chúng. Qua hơn một năm đấu tranh phân biệt đúng sai, Đảng bộ và nhân dân Lạng Giang đã hoàn thành thắng lợi công tác sửa chữa sai lầm trong công cuộc cải cách và chỉnh đốn tổ chức. Hàng chục đảng viên được trả lại đảng tịch, chức vụ. Uỷ ban hành chính huyện xã được kiện toàn... 80 uỷ viên uỷ ban hành chính xã được đề bạt, phục hồi 36 uỷ viên bị xử lý, 447 địa chủ bị quy oan (trong tổng số 706 địa chủ). Tình hình nông thôn được ổn định, nông dân lao động làm chủ làng xóm vươn lên; bọn phản cách mạng bị trấn áp. Thắng lợi to lớn của cuộc cải cách ruộng đất được ổn định.

Tháng 3 năm 1955, Ban chấp hành TW Đảng họp hội nghị  lần thứ 7. Hội nghị xác định phục hồi sản xuất nông nghiệp là nhiệm vụ then chốt, là cơ sở để cải thiện đời sống nhân dân, giải quyết nạn đói trước mắt và phát triển mọi ngành kinh tế.

Bước vào nhiệm vụ này, Đảng bộ và nhân dân Lạng Giang gặp không ít khó khăn: Hơn 2.000 ha ruộng đất bị bỏ hoang, đập Cầu Sơn bị hư hại nặng. Trong suốt 3 năm (1955, 1956, 1957) huyện luôn bị bão lụt, hạn hán, gây thiệt hại nghiêm trọng. Cuối năm 1956 đầu năm 1957; 2.120 ha lúa chiêm bị hạn, trong đó có 1.163 ha bị hạn nặng, 108 ha không có nước cấy phải chuyển sang trồng màu. Trận bão ngày 08-7-1956 đã làm 2.962 gian nhà bị đổ, 583 ha lúa bị thiệt hại, 24 người bị thương. Thực hiện nhiệm vụ khai hoang phục hoá, từ đầu năm 1955, hàng ngàn nông dân với dụng cụ thô sơ, chủ yếu là cuốc, phát cỏ dại, vỡ được hàng trăm ha ruộng để cày cấy. Cuối năm 1957, hầu hết ruộng đất hoang hoá đã được khai phá. Hệ thống đê điều, nông giang được tu bổ và củng cố. Năm 1956 huyện đã tổ chức 37 đội xung kích gồm 357 người, 38 đội canh phòng gồm 434 người, 126 đội dự bị gồm 2.235 người và 16 đội bảo vệ gồm 100 người tham gia tu bổ đê. Chỉ trong một thời gian ngắn, toàn huyện đã nạo vét 34 con mương chân rết dài 11.402 m, đắp 6 đập giữ nước, 44 bờ khuyến nông. Phong trào cải tiến kỹ thuật nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp được nông dân trong huyện hưởng ứng rầm rộ. Làm thử ngâm mạ “3 sôi 2 lạnh”, đóng bừa cỏ Nghệ An, điển hình là xã Tân Thanh đã đóng được hàng trăm chiếc.

Dưới sự lãnh đạo của Huyện uỷ, sự nỗ lực của nhân dân trong huyện, sản xuất nông nghiệp đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần hoàn thắng lợi kế hoạch 3 năm 1955- 1957. Trong 3 năm đã đóng thuế nông nghiệp và bán cho nhà nước hàng nghìn tấn thóc. Vụ mùa năm 1956, nông dân vừa bán vừa đóng thuế 3.176 tấn, vụ chiêm xuân năm 1957 là 2.156 tấn. Cuối năm 1957, toàn huyện có 7.761 con trâu, 3.938 con bò và 15.330 con lợn. Về cơ bản giải quyết được sức kéo cho nông nghiệp. Công tác bảo vệ sức khoẻ nhân dân được đảng bộ quan tâm chỉ đạo. Năm 1957 ngành y tế đã khám bệnh cho 8.935 lượt người, phát thuốc cho 30.245 lượt người, tiêm phòng cho 29.557 người. Xây dựng 10 tủ thuốc xã, 944 túi thuốc xóm trị giá trên 3 triệu đồng. Công tác bình dân học vụ góp phần thanh toán nạn mù chữ.

Thắng lợi vô cùng quan trọng của Đảng bộ và nhân dân huyện tạo điều kiện thuận lợi bước vào kế hoạch 3 năm phát triển và cải tạo kinh tế, phát triển văn hoá.

II. Thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu phát triển kinh tế và văn hoá (1958- 1960)

Hội nghị lần thứ 14 của BCH TW Đảng (11-1958) đã đề ra nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là: Đẩy mạnh công cuộc cải tạo XHCN đối với những thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và thành phần kinh tế tư bản tư doanh. Đồng thời, phải ra sức phát triển thành phần kinh tế quốc dân.

Huyện uỷ đã tổ chức cho toàn thể các đảng viên của Đảng bộ học tập nghị quyết 14 của TW. Đến hết năm 1959, huyện có 121 hợp tác xã, có 23 hợp tác xã cấp cao, 24 hợp tác xã (HTX) có nghề phụ, 5 hợp tác xã có quy mô lớn là Thống Nhất (176 hộ), Đoàn Kết (93 hộ), Phan Thượng (84 hộ), Trại Nội (85 hộ), Mỹ Sơn (108 hộ). Các xã Yên Sơn và Tân Hưng có trên 80% số hộ nông dân vào hợp tác xã. Đến cuối năm 1960, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trên địa bàn huyện đưa nông dân vào hợp tác xã đã căn bản hoàn thành. Toàn huyện có 209 HTX, gồm 12.324 hộ chiếm 94,4% tổng số hộ nông dân. Trong 36 HTX, vụ chiêm xuân năm 1959, thu hoạch bình quân 2.671 kg thóc/ha (trong khi đó nông dân cá thể và tổ đổi công thu hoạch 2.421kg thóc/ha). HTX mua bán (thành lập từ năm 1955) được các cấp uỷ quan tâm, phát triển thu hút đông đảo nhân dân, nhất là nông dân tham gia. Năm 1959 HTX mua bán mở thêm được 3 cửa hàng ở chợ Chiển, Thọ Xương, Dương Đức, 2 cửa hàng thuốc bắc. HTX tín dụng được xây dựng từ đầu năm 1958, đến năm 1959, các xã trong huyện đều xây dựng HTX tín dụng, với 1.966 xã viên. Dưới sự chỉ đạo sát sao của Huyện uỷ, sự nỗ lực cố gắng của nhân dân, huyện đã giành được thắng lợi lớn trong nông nghiệp: Vụ chiêm 1958 với diện tích 4.194 ha sản lượng 7.242.830 kg; Vụ chiêm 1959 với diện tích 4.061 ha sản lượng 10.274.330 kg; Vụ chiêm 1960 với diện tích 4.025 ha sản lượng 10.062.500 kg.

Với những kết quả trong sản xuất nông nghiệp, huyện Lạng Giang được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen, xã Tân Hưng được tặng Huân chương lao động hạng Nhì, HTX Cao Thượng được tặng Huân chương Lao động hạng Ba, xã Hương Sơn được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen.

Phong trào xoá nạn mù chữ phát triển mạnh mẽ. Đến cuối năm 1958, huyện Lạng Giang căn bản hoàn thành thanh toán nạn mù chữ. Các xã Quang Thịnh, Tân Thịnh và Thái Đào được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba (1958). Phong trào bổ túc văn hoá được đẩy mạnh ở nông thôn và trong các cơ quan. Năm học 1958-1960 có 10.700 người theo học. Năm học 1959- 1960, các xã đều có trường cấp I, gồm 49 lớp với 2.362 học sinh và 55 lớp dân lập với 2.457 học sinh. Trường cấp II Lạng Giang (đặt tại Kép) có 6 lớp với 357 học sinh.

Ngành y tế triển khai các hoạt động góp phần xây dựng đời sống mới. Phong trào “sạch làng tốt ruộng”, làm nhà vệ sinh hai ngăn, “ba diệt” (diệt ruồi, diệt muỗi, diệt chuột) thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Đến cuối năm 1960, gần một nửa số xã trong huyện xây dựng được trạm xá. Hàng vạn nhân dân được cấp phát thuốc, khám bệnh. Trẻ em trong độ tuổi được tiêm phòng các bệnh thông thường.

Tháng 01- 1959, Đại hội Đảng bộ huyện Lạng Giang lần thứ nhất được tổ chức. Đại hội kiểm điểm, đánh giá hoạt động của Đảng bộ, đề ra phương hướng, nhiệm vụ năm 1959. Đảng bộ đấu tranh khắc phục những nhận thức mơ hồ về mối quan hệ khăng khít giữa nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và nhiệm vụ giải phóng miền Nam; phê phán tư tưởng mệt mỏi, một số cán bộ, đảng viên chưa gương mẫu trong phong trào xây dựng tổ đổi công tác xây dựng hợp tác xã. Cùng với chú trọng công tác chính trị, tư tưởng, Huyện uỷ đặc biệt coi trọng xây dựng đảng bộ về tổ chức. Đầu năm 1960, Huyện uỷ bồi dưỡng, kết nạp 309 đảng viên mới tổ chức, góp phần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào hợp tác hoá ở nông thôn.

Một sự kiện chính trị có ý nghĩa quan trọng diễn ra là ngày 15-3-1959, nhân dân đi bầu cử hội đồng nhân dân cấp xã. Trong các ngày 09, 10, 11 tháng 6 năm 1959, tiến hành bầu cử uỷ ban hành chính cấp huyện. Ngày 08-5-1960, nhân dân Lạng Giang cùng nhân dân miền Bắc nô nức đi bầu cử đại biểu Quốc hội khoá II- cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân. Gần 99% tổng số cử tri (33.285 người) trong huyện đã đi bỏ phiếu.

Huyện căn bản hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch 3 năm 1958-1960. Đảng bộ huyện Lạng Giang tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ II (5-1960). Từ cuối năm 1960, sau khi cơ bản hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, Đảng bộ đã phấn đấu khắc phục nhiều khó khăn để giữ gìn và từng bước củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất mới. Kinh tế bước đầu phát triển, xác lập được quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, các hộ cá thể dần chuyển sang sản xuất tập thể. Những thắng lợi cơ bản đó là tiền đề cho việc thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965).

III. Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961- 1965)

Sau khi hoàn thành thắng lợi kế hoạch 3 năm cải tạo và phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, miền Bắc nước ta bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và bước đầu xây dựng CSVC của chủ nghĩa xã hội. Đảng xác định sản xuất nông nghiệp giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Chủ trương lấy sản xuất lương thực làm trọng tâm, đồng thời phát triển nông nghiệp một cách toàn diện.

Tháng 01- 1962, Đảng bộ tiến hành Đại hội đại biểu đảng bộ lần thứ III. Đại hội tập trung vào vấn đề trọng tâm là cải tạo và phát triển nông nghiệp, bàn bạc các vấn đề chủ yếu: xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất mới, tăng cường áp dụng các tiến bộ khoa học- kỹ thuật, đẩy mạnh phong trào làm thuỷ lợi. Củng cố cấp uỷ đảng, chính quyền, các đoàn thể, cải thiện đời sống nhân dân. Đẩy mạnh các hoạt động đấu tranh thống nhất đất nước. Đề ra phương hướng, nhiệm vụ, chỉ tiêu phát triển kinh tế, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, xây dựng và củng cố tổ đổi công, hợp tác xã nông nghiệp, đẩy mạnh ứng dụng khoa học-kỹ thuật, sử dụng nông cụ cải tiến, phân bón. Phát triển văn hoá, giáo dục, y tế và nâng cao đời sống nhân dân.

Thực hiện chủ trương về xây dựng hợp tác xã bậc cao, Huyện uỷ chỉ đạo hợp nhất những hợp tác xã có đủ điều kiện thành những hợp tác xã có quy mô trên dưới 100 hộ, ổn định những hợp tác xã quy mô thôn đã hợp nhất trước đây. Năm 1963, số HTX quy mô dưới 50 hộ còn chiếm tới 31%. Đến cuối năm 1965, quy mô HTX nông nghiệp được điều chỉnh: Dưới 100 hộ có 177 HTX ; từ 101 hộ đến 150 hộ có 37 HTX; 151 đến 200 có 14 HTX; 201 hộ đến 300 hộ có 7 HTX. Bình quân trong toàn huyện là 84 hộ một HTX. Năm 1964 toàn huyện có 177 HTX trong đó, HTX bậc cao là 159 chiếm 78,5%; đến cuối năm 1965, số HTX có 175 trong đó HTX bậc cao là 172 chiếm 96 % tổng số HTX.

Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ IV (tháng 4-1963). Đại hội tập trung sự chỉ đạo vào thực hiện Cuộc vận động cải tiến quản lý HTX, cải tiến kỹ thuật. Đến cuối năm 1963, huyện đã tiến hành 2 đợt ở hơn 30 hợp tác xã. Năm 1964 huyện tiến hành tiếp đợt 3, 4, 5 ở 65 HTX; đến hết đợt 6, huyện đã tiến hành được ở 134 HTX, đạt tỷ lệ 75% tổng số HTX. Sản xuất phát triển, giá trị ngày công tăng từ 0,8 đồng lên 1 đồng, bình quân lao động từ 195 công/năm 1963 lên 208 công/năm 1964. Công tác cải tạo đối với tiểu thương và thợ thủ công tiếp tục được tiến hành. Đến cuối năm 1963, số tiểu thương cải tạo đạt 75%, cải tạo tiểu thủ công đạt 85%, chuyển 40 hộ tiểu thương chuyển sang sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp.

Nhìn chung, công cuộc củng cố và hoàn thiện sản xuất mới có tiến bộ rõ rệt về tư tưởng, tổ chức, quản lý sản xuất. Nhờ những biện pháp tích cực, Đảng bộ và nhân dân huyện đã vượt qua những khó khăn hoàn thành thắng lợi những chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Về sản xuất nông nghiệp, năm 1964 gieo cấy được 15.405 ha đạt 100,1% kế hoạch. Tổng sản lượng lương thực đạt 28.554 tấn, đạt 100,1% kế hoạch, tăng 15,5% so với năm 1961.

Sự nghiệp y tế, giáo dục văn hoá có bước phát triển. Năm học 1964- 1965, toàn huyện có 127 lớp vỡ lòng, gồm 4.725 cháu; 24 trường cấp I với tổng số 244 lớp với gần 11 nghìn học sinh, 10 trường cấp II với 53 lớp trên 2.500 học sinh, tăng 2,9 lần so với năm 1961. Công tác y tế được chú trọng, đến cuối năm 1964, toàn huyện đã có 45 trạm xá xã, 64 giường bệnh, 8 y sỹ, 764 y tá và vệ sinh viên. Công tác tổ chức các tủ sách hợp tác xã, phong trào đọc và làm theo sách được quan tâm. Đến cuối năm 1965, toàn huyện đã có 51 tủ sách của hợp tác xã và đội sản xuất gồm 131 ngàn cuốn các loại; nhiều nhất là tủ sách của hợp tác xã Phúc Mãn.

 Ngày 02-10-1964, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Lạng Giang lần thứ V được tiến hành. Đại hội tập trung bàn bạc và đề ra các phương hướng thực hiện kiện toàn các cấp uỷ, nâng cao chất lượng, bảo đảm tăng cường năng lực lãnh đạo và uy tín của cấp uỷ, bảm đảm lãnh đạo hoàn thành thắng lợi kế hoạch nhà nước, phát triển kinh tế, văn hoá.

Huyện uỷ đã tiến hành đợt chỉnh huấn mùa xuân cho toàn thể cán bộ và đảng viên trong huyện, có 97,6% đảng viên tham gia học tập. Cuộc vận động xây dựng chi bộ, đảng bộ cơ sở  “4 tốt” trong huyện được tiến hành từ cuối năm 1962. Qua 3 năm thực hiện Cuộc vận động, kết quả xếp loại các chi bộ đảng như sau: Năm 1962 có 52 chi bộ đạt khá; năm 1964 có 64 chi bộ đạt khá; 6 tháng đầu năm 1965 số chi bộ đạt khá tăng lên 70. Công tác phát triển đảng được các chi bộ thực hiện thường xuyên. Năm 1964 huyện mở lớp huấn luyện cho 52 đảng viên mới; 4 lớp cho 352 đối tượng cảm tình Đảng. Toàn đảng bộ kết nạp được 187 đảng viên mới, đoàn viên là 113, nữ là 32 đồng chí. Trong 6 tháng đầu năm 1965, toàn đảng bộ kết nạp được 132 đồng chí, trong đó có 12 nữ, 81 quân nhân viên phục vụ và có 1 đồng chí gốc đạo thiên chúa.

Công tác đào tạo, nâng cao trình độ cán bộ được Huyện uỷ quan tâm. Năm 1964, huyện cử 25 đồng chí đi dự các lớp tập huấn do huyện mở. Năm 1965, 80 đồng chí được cử đi học các lớp ở tỉnh và 70 đồng chí đi dự các lớp bồi dưỡng ở huyện mở.

Ngày 25-6-1961 nhân nhân nô nức đi bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân cấp huyện. Tổng số cử tri đi bỏ phiếu là 46.073 người, đạt 94,5%. Cử tri đã bầu 46 đại biểu vào hội đồng nhân dân. Ngày 25-3-1962, nhân dân Lạng Giang đi bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh khoá 3; đã bầu 10 trong số 13 ứng cử viên tại khu vực Lạng Giang vào hội đồng nhân tỉnh. Ngày 26-4-1964, nhân dân Lạng Giang cùng nhân dân miền Bắc nô nức đi bầu cử Quốc hội khoá 3.

Qua hơn mười năm nỗ lực khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức, cán bộ đảng viên và nhân dân Lạng Giang đã giành được những thắng lợi đáng tự hào trên tất cả các lĩnh vực trong công cuộc khôi phục phát triển kinh tế, văn hoá, tiến hành hợp tác hoá, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.

(5) Đảng bộ và nhân dân Lạng Giang vừa sản xuất vừa chiến đấu, chi viện cho cách mạng miền Nam (1965- 1975)?

CHƯƠNG V. ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN LẠNG GIANG VỪA SẢN XUẤT VỪA CHIẾN ĐẤU, CHI VIỆN CHO CÁCH MẠNG MIỀN NAM (1965- 1975)   

I. Kịp thời chuyển hướng về tư tưởng, tổ chức, chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Đế quốc Mỹ (1965-1968)

Trong phiên họp Quốc hội khoá 3 (8-4-1965), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng và Nhà nước, phát động cuộc chiến tranh toàn dân chống Mỹ, cứu nước. Người khẳng định: “Lúc này, chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của mọi người Việt Nam yêu nước”. Chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Tỉnh uỷ, Huyện uỷ và Uỷ ban nhân dân hành chính huyện Lạng Giang ra nghị quyết về phòng không, sơ tán và chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng chi viện cho tiền tuyến.

12 giờ 20 phút ngày 23-8-1965, một tốp máy bay Mỹ oanh tạc vào làng Kép  (xã Hương Sơn). Tiếp đó 12 giờ 45 phút, 3 tốp gồm 6 chiếc bắn phá đợt 2. Trong vòng 2 giờ địch liên tiếp tấn công 4 đợt, đã sử dụng 24 lần chiếc máy bay bắn phá trên một phạm vi rộng 4 km2, vào các xóm Càn, Kép, Thân thuộc các xã Hương Sơn và thị trấn Kép, đánh phá thôn Phú Độ (xã Phi Mô) và thôn Hậu (xã Đại Lâm). Trận đầu tiên này địch đã ném xuống 63 quả bom phá các loại, nhiều bom bi, bom cánh dù và bắn đạn rốc két, làm chết 9 người, bị thương 10 người, phá huỷ 170 gian nhà, 8 gian trường học. Ngay trong trận thử lửa đầu tiên này, dân quân tự vệ Lạng Giang đã hợp đồng cùng các đơn vị bộ đội chủ lực chiến đấu dũng cảm bắn hỏng 2 máy bay Mỹ. Ngày 20-9-1965; 3 máy bay Mỹ bị bắn cháy ghi chiến công đầu tiên của quân và dân Hà Bắc trước sức mạnh của không lực Hoa Kỳ. Huyện uỷ tập trung chỉ đạo chuyển hướng mạnh mẽ về tư tưởng và tổ chức, nhanh chóng triển khai làm tốt công tác phòng không nhân dân, giữ gìn trật tự an ninh, tích cực sản xuất, sẵn sàng phục vụ chiến đấu và chiến đấu, bảo đảm giao thông vận tải thông suốt thực hiện mọi yêu cầu chi viện cho tiền tuyến. Khí thế sẵn sàng chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ sôi nổi, rộng khắp trong đoàn thể, quần chúng. Phong trào “Ba sẵn sàng” của thanh niên được phát động rộng khắp. Hội Phụ nữ phát động phong trào “Ba đảm đang”... Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ và nhân dân Lạng Giang đã đẩy mạnh phong trào thi đua quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Lạng Giang lần thứ VI- Đại hội chống Mỹ, cứu nước (2- 1967). Đại hội lần này là Đại hội quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Tổ chức đón nhận Huân chương chiến công Hạng 2 về thành tích phục vụ chiến đấu và chiến đấu trong năm 1965- 1966. Đại hội đã nhất trí thông qua Nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 1967-1968.

Năm 1967 địch tăng cường bắn phá, Huyện uỷ tập trung chỉ đạo công tác chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Chiều ngày 20-4-1967 Mỹ sử dụng 6 máy bay đánh phá ga Kép và vùng lân cận. Đồng chí Nguyễn Văn Huy, Bí thư chi bộ thị trấn Kép, đã cùng dân quân tự vệ dũng cảm cứu hàng, cứu toa xe. Với tinh thần dũng cảm của dân quân tự vệ, 17 toa xe hàng được chuyển vào nơi an toàn. Đồng chí Nguyễn Văn Huy đã hy sinh anh dũng trong trận chiến đấu ngày 26-5-1967 và được công nhận là liệt sỹ.

Ngày 01-5-1967, máy bay Mỹ lại đánh phá một số nơi thuộc xã Yên Sơn, sân bay Kép, Mỹ Thái, Dĩnh Kế, Dĩnh Trì. Trung đội tự vệ của công trường 112 đã bắn rơi 1 máy bay. Ngày18-01-1968 không quân ta bắn rơi máy bay Mỹ trên bầu trời xã Tân Dĩnh, bắt sống 2 phi công Mỹ.

Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, bên cạnh lực lượng của dân quân tự vệ, các ngành, các giới của các đoàn thể quần chúng cũng tích cực tham gia phục vụ chiến đấu và chiến đấu. Trên 15.000 đoàn viên thanh niên hăng hái đi đầu trong các phong trào. Huyện đoàn đã thành lập 15 đội thanh niên xung phong, cứu nước gồm 1.256 đoàn viên thanh niên, trong đó có 819 nữ. Toàn huyện có 463 chị em tham gia tổ trực chiến trên các trận địa. Các cụ phụ lão thành lập 12 đội dân quân, 660 cụ tham gia. Ngành y tế tổ chức đào tạo 2.000 y tá, cứu thương cho cơ sở, xây dựng củng cố 24 trạm xá, 4 nhà mổ dưới hầm. Ngành công an nhanh chóng triển khai lực lượng, kịp thời có mặt ở những vùng trọng điểm, những nơi địch đánh phá để làm nhiệm vụ, góp phần đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản cho nhân dân. Trong những năm chiến tranh khốc liệt, Lạng Giang phải gánh chịu trên 3.000 tấn bom đạn. Thành tích trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu: Hầm 49.476 cái; giao thông hào 104.702 m; công sự trận địa pháo 630.000m3; làm nhà giúp bộ đội 1.620 gian; áo giáp, mũ rơm cho bộ đội 1.686 cái. Trực tiếp tham gia phục vụ chiến đấu 1.062 nghìn lượt người. Máy bay Mỹ bị bắn rơi trên đất Lạng Giang 54 chiếc. Số giặc lái bị bắt và bị chết 12 tên.

Được sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, Huyện uỷ, Uỷ ban hành chính, trong điều kiện chiến tranh ác liệt, sản xuất nông nghiệp vẫn phát triển. Năm 1967 cũng là năm địch đánh phá ác liệt, nhưng cũng là năm đầu tiên huyện Lạng Giang có 2 hợp tác xã đạt trên 5 tấn/ha, đó là HTX Tam Sơn (Tân Dĩnh) và HTX Mỹ Sơn (Yên Sơn). Đời sống nhân dân không những được cải thiện mà còn đảm bảo đóng góp đầy đủ nghĩa vụ lương thực, thực phẩm cho Nhà nước, đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến.

II. Khôi phục phát trển kinh tế- văn hoá và góp phần đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ (1969- 1972)

Bị thất bại nặng nề trên cả chiến trường miền Nam, Bắc Việt Nam, ngày 01-11-1968, Tổng thống Mỹ Giônxơn buộc phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn việc ném bom bắn phá và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, chấp nhận ngồi đàm phán tại Pari để giải quyết vấn đề chiến tranh tại Việt Nam. Miền Bắc bước sang giai đoạn khắc phục hậu quả chiến tranh, khắc phục và phát triển kinh tế, tiếp tục chi viện cho các chiến trường chống Mỹ.

Từ ngày 10 đến 13-4-1969, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ VII được tổ chức tại xóm Thượng (Mỹ Thái). Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ năm 1969: “...tăng cường, củng cố xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng thật vững mạnh. Tăng cường đoàn kết nhất trí trong toàn Đảng bộ và nhân dân trong huyện, tiếp tục thực hiện tốt nhát ba cuộc cách mạng (cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá). Đặc biệt quyết tâm tập trung sức lực xây dựng và phát triển mạnh mẽ kinh tế địa phương; trong bất kỳ tình huống nào cũng đảm bảo sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, tổ chức đời sống tốt, chi viện đầy đủ, kịp thời sức người, sức của cho tiền tuyến; quyết giành thắng lợi cao nhất trong sự nghiệp  chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

Trong niềm tiếc thương vô hạn, ngày 06-9-1969, Đảng bộ, quân và dân Lạng Giang  cùng nhân dân cả nước tổ chức Lễ truy điệu trọng thể và để tang Chủ tịch Hồ Chí Minh. Biến đau thương thành hành động cách mạng, Huyện uỷ, Uỷ ban hành chính  huyện Lạng Giang tổ chức phát động phong trào thi đua, ra sức học tập và chấp hành đầy đủ những lời dạy bảo của Người. 40 quần chúng ưu tú đã được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam trong đợt này.

Từ ngày 19 đến 23-5-1971, Đại hội đại biểu Đảng bộ Huyện Lạng Giang lần thứ VIII được tổ chức tại hội trường Uỷ ban hành chính huyện ở rừng Vôi, làng Chu Nguyên, xã Yên Sơn (nay là Trung tâm Giáo dục- Thường xuyên và Dạy nghề- thị trấn Vôi). Đại hội tập trung thảo luận và bàn biện pháp thực hiện Nghị quyết nhiệm kỳ 1971-1972 của Đảng bộ huyện trên các mặt củng cố hợp tác xã, đẩy mạnh sản xuất, sẵn sàng chiến đấu. Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ chung về phát triển kinh tế là: phát huy cao độ khả năng tiềm tàng của một huyện trung du, nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, khắc phục thiếu sót nhược điểm, ra sức khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá, làm tròn nghĩa vụ chi viện nhân tài, vật lực cho tiền tuyến. Tập trung đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, phát triển toàn diện mạnh mẽ cải tạo, tổ chức xây dựng phát triển tiểu thủ công nghiệp, nhất là ở các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp.

Thực hiện nghị quyết Đại hội, Huyện uỷ tập trung chỉ đạo các xã tổ chức cho nông dân học tập điều lệ HTX. Quy mô hợp tác xã được mở rộng, từ 152 HTX nhỏ, hợp nhất thành 67 HTX liên thôn, số hộ nông dân vào HTX (năm 1972) lên tới 17.395 hộ (đạt 98%), gồm 600 đội sản xuất cố định, với 33.787 lao động chính. Phong trào phấn đấu đạt 3 mục tiêu trong nông nghiệp được phát động rộng rãi ở hầu khắp các hợp tác xã. Các HTX Tam Sơn (Tân Dĩnh), Mỹ Sơn (Yên Sơn) đạt trên 5 tấn thóc/ha. Tháng 8-1972, các HTX được phân loại: HTX tiên tiến 02 (Tân Xuyên, Liệt Hạ); HTX khá 19; HTX trung bình 22.

Đồng thời với phát triển sản xuất nông nghiệp, Đảng bộ lãnh đạo phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Xí nghiệp 2- 9 đẩy mạnh sản xuất phục vụ nông nghiệp. Mặc dù cơ sở sản xuất còn thiếu thốn, nhưng ngay năm 1971 là năm có nhiều khó khăn, đội ngũ công nhân vẫn hoàn thành kế hoạch, đã sản xuất: Cày 720 chiếc; bừa 700 chiếc; cuốc liềm trên 12.000 chiếc, xe cải tiến 950 chiếc, 200 bộ đồ nghề dùng trang bị cho mạng lưới sửa chữa công cụ lao động cầm tay ở các HTX nông nghiệp. Các cơ sở lò gạch, ngói, tiểu thủ công nghiệp tiếp tục được củng cố và phát triển. Sản xuất vật liệu xây dựng đạt 130% kế hoạch; khai thác chế biến lâm sản vượt 18% kế hoạch; may mặc vượt 8% kế hoạch. Giá trị tổng sản lượng cả năm là 1.830.000 đồng, đạt 106% kế hoạch và tăng 15% so với năm 1970. Tài chính ngân hàng đã thúc đẩy các ngành sản xuất phát triển.

Đảng bộ đặc biệt quan tâm công tác văn hoá, giáo dục, y tế. Năm 1969, Lạng Giang có trên 24 ngàn học sinh. Đến năm 1972, số học sinh đã tăng lên 32 ngàn học sinh. Công tác văn hoá thông tin được chú trọng. Công tác phát hành sách được chú ý, phục vụ tốt sản xuất và đời sống. Đời sống tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện. Năm 1972, Phòng Y tế kết hợp với các trạm xá tiêm và phát thuốc phòng dịch tả cho 80.805 lượt người.

III. Góp phần đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ

Ngày 04-4-1972, Nichxơn huy động lực lượng lớn không quân, hải quân ồ ạt đánh phá trở lại miền Bắc với mức độ ác liệt chưa từng có. Trước những yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng, đầu năm 1972 BCH TW Đảng họp hội nghị lần thứ 20 thông qua Nghị quyết về nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước và xây dựng kinh tế ở miền Bắc là: Tăng cường lực lượng quốc phòng, sẵn sàng chiến đấu đập tan cuộc phiêu lưu quân sự của địch bằng không quân, biệt kích hoặc bộ binh. Ngày 10-5-1972, trận đầu đánh vào Lạng Giang, máy bay Mỹ ném bom bắn phá khu vực Kép đã bị các lực vũ trang của ta giáng trả những đòn đích đáng. Máy bay địch rơi trúng vào một gia đình ở Hương Sơn, nhà cửa bị phá huỷ nhưng 11 người trong gia đình ở trong hầm trú ẩn được an toàn. Ngày 29-5-1972 máy bay địch đánh cống Hà Vang, một số đoạn đường sắt, đường 1A bị hỏng nặng. Ban Chỉ huy xã đội Tân Dĩnh đã kịp thời tổ chức lực lượng dân quân du kích và thanh niên ra mặt đường san lấp hố bom, sửa lại cống. Đêm 28 rạng sáng ngày 29-6-1972, máy bay địch ném bom vào xóm Ngang xã Hương Lạc hai quả bom bi mẹ; xóm Kép xã Hương Sơn 12 quả bom phát quang và 2 quả bom bi mẹ. Ở xóm Ngang, 13 gian nhà bị phá huỷ, 5 người chết và 11 người bị thương, phần lớn là trẻ em; 23 gian nhà ở xóm Kép bị đổ nát. Ngày 01-7-1972, máy bay Mỹ lại đánh phá Lạng Giang, các đơn vị tên lửa, không quân, pháo cao xạ và dân quân tự vệ đã phối hợp giăng lưới lửa, bắn rơi máy bay, dân quân xã Tân Thanh bắt sống 2 phi công Mỹ. Bị thất bại ở cả hai chiến trường miền Nam, Bắc, ngày 22-10-1972, Nichxơn phải ra lệnh ngừng ném bom, bắn phá từ Bắc vĩ tuyến 20 trở ra. Ngay sau khi trúng cử tổng thống Mỹ, Nichxơn đã trắng trợn cho các loại máy bay hiện đại nhất của Mỹ ném bom miền Bắc lần thứ hai. Trong các ngày 18, 24 và 29-12-1972, máy bay B52 và các loại máy bay khác của Mỹ đã thả trên 30.000 quả bom xuống 30 làng, xóm thuộc huyện Lạng Giang. Chúng đã giết hại 92 người, làm bị thương 63 người và nhiều tài sản khác.

Trong 12 ngày đêm từ 18 đến 29-12-1972 đế quốc Mỹ đã bắn phá vào địa bàn huyện có tính chất huỷ diệt: với 22 vệt bom và 66 lần chiếc “pháo đài bay” B52 và “cánh cụp cánh xoè” F.111.A. Chúng đã trút xuống Lạng Giang trên 11 vạn quả bom phá, 3.600 bom bi mẹ, hàng ngàn rốc két, bom xuyên... Bình quân mỗi người dân Lạng Giang chịu một quả bom phá và 128 quả bom bi con. Mảnh đất Lạng Giang đã từng ghi nhiều chiến công hiển hách trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, là niềm tự hào của mỗi người dân. Đến hết năm 1972; 54 máy bay Mỹ đã bị bắn rơi trên bầu trời Lạng Giang, 12 phi công Mỹ bị tiêu diệt và bị bắt sống. Nhiều anh em ra mặt trận đã được tặng danh hiệu Dũng sĩ, Chiến sĩ thi đua, hai đồng chí Mai Dinh và Trần Ngọc Phương được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Với thành tích nổi bật trong công tác tuyển quân, ngày 24-3-1973, Đảng bộ và nhân dân Lạng Giang được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất. Đã có 8 xã được công nhận danh hiệu xã “Quyết thắng”.

IV. Khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế- xã hội, chi viện chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1973- 1975)

Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ IX được tổ chức tại xã Yên Mỹ từ ngày 26 đến 30-3-1973. Đại hội khẳng định quyết tâm thực hiện thắng lợi nghị quyết của BCH TW Đảng, Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ II. Đại hội đề ra nhiệm vụ chủ yếu cho 2 năm 1973- 1974 là: ra sức khắc phục hậu quả chiến tranh trên các mặt sản xuất; phát huy tiềm năng của huyện trung du; đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp; tập trung phát triển “6 cây, 3 con” nhằm đạt các mục tiêu trong nông nghiệp, tạo ra khối lượng lớn nông sản hàng hoá; phát triển mạnh tiểu, thủ công nghiệp và ngành nghề trong các HTX, đẩy mạnh sản xuất vật liệu xây dựng.

Đảng bộ triển khai sâu rộng Nghị quyết số 228 của Bộ Chính trị và nghị quyết số 22 của TW Đảng, nhằm ổn định quy mô, củng cố HTX, đồng thời củng cố quan hệ sản xuất, thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng kỹ thuật. Toàn huyện có 67 HTX, riêng Mỹ Hà là HTX toàn xã. Đến hết năm 1974 có 98,5% số hộ nông dân vào HTX. Các HTX đều thực hiện “3 khoán, 3 quản”. Năm 1974 học tập Điều lệ HTX bậc cao, các mặt công tác tiến bộ hơn, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. Công tác thuỷ lợi kết hợp giao thông được triển khai mạnh mẽ, là một trong những biện pháp lớn của cách mạng kỹ thuật, thúc đẩy sản xuất phát triển. Nhờ ứng dụng các tiến bộ vào sản xuất, năm 1973 năng suất đạt 41 tạ thóc/ha, 8 HTX đạt 5 tấn. Đến năm 1974, huyện đã đạt 48 tạ/ha và “lá cờ 5 tấn” đã cắm ở 18 HTX. Kinh tế vườn đồi cũng phát triển, hai năm 1973-1974, toàn huyện đã trồng 122 ngàn cây các loại và 17 ngàn khóm tre bao đồi; nhân dân trồng được 6.500 cây ăn quả.

Sự nghiệp giáo dục tiếp tục được duy trì và phát triển. Năm học 1974- 1975 có 32.586 học sinh từ mẫu giáo đến cấp II và trên 700 học viên bổ túc văn hoá.

Công tác xây dựng Đảng và xây dựng chính quyền, đoàn thể: Đảng bộ thực hiện nghiêm túc các Nghị quyết của Đảng như Nghị quyết 228, 195, 22, các Chỉ thị 192, 209... Tập trung củng cố phát triển các tổ chức Đảng, phát huy vai trò của đảng viên trên các lĩnh vực hoạt động. Đặc biệt là nhiệm vụ củng cố quan hệ sản xuất trong các hợp tác xã nông nghiệp, khôi phục và phát triển kinh tế. Năm 1974, qua phân loại 23 đảng bộ nông thôn, có 8 đảng bộ đạt tiêu chuẩn phấn đấu tốt, trong đó An Hà là đảng bộ xuất sắc; 18 trong số 66 chi bộ đạt tiêu chuẩn phấn đấu tốt, trong đó 3 chi bộ xuất sắc là Tân Lộc, Tân Trung (xã Tân Hưng), Liệt Hạ (xã An Hà).

Xuyên suốt chặng đường kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, truyền thống cần cù trong sản xuất và anh dũng trong chiến đấu đã được các tầng lớp nhân dân, các giới, các ngành phát huy cao độ, làm nên mọi thắng lợi của phong trào cách mạng địa phương. Người ra tiền tuyến chiến đấu anh dũng, người ở nhà xây dựng quê hương hậu phương, chắt chiu tần tảo, xây dựng những công trình cho hiện tại và tương lai. Những chiến công, những thành tựu trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội đạt được trong 20 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là cơ sở quan trọng để Đảng bộ và nhân dân Lạng Giang đi tới trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.

(6) Đảng bộ và nhân dân Lạng Giang cùng cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc (1975- 1985)?

CHƯƠNG VI: ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN LẠNG GIANG CÙNG CẢ NƯỚC XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC (1975- 1985)

I. LÃNH ĐẠO VÀ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ 2 (1975- 1980)

Bước vào thời kỳ mới, xây dựng đất nước trong hoà bình, Đảng bộ và nhân dân Lạng Giang có những thuận lợi cơ bản. Đó là, vị thế của một dân tộc chiến thắng; truyền thống đoàn kết, anh hùng trong chiến đấu, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất. Bên cạnh những thuận lợi, Lạng Giang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Khó khăn bởi hậu quả chiến tranh và âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch; mô hình kinh tế thời chiến phát huy tác dụng ở miền Bắc hơn 20 năm nay không còn phù hợp; Lạng Giang vẫn là huyện nghèo, kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, sản lượng thấp; công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển chậm, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn.

1. Kế hoạch, định hướng chỉ đạo chung

Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ X (Đợt 1: Từ 4- 10/4/ 1976) thông qua phương hướng nhiệm vụ kế hoạch 5 năm lần thứ 2 (1976- 1980). Đại hội đề ra nhiệm vụ chủ yếu trong nông nghiệp: Phấn đấu đạt mục tiêu 5 tấn thóc/ha; đẩy mạnh công tác thuỷ nông; củng cố các cơ sở yếu kém trên cơ sở quản lý chặt chẽ tư liệu sản xuất, đồng thời hoàn chỉnh quy mô hợp tác xã toàn xã; thực hiện tốt phong trào thực hiện nếp sống văn minh, xây dựng gia đình văn hoá, xây dựng con người mới XHCN.

Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ X (Đợt 2: Từ 30/10- 1/11/1976) đề ra một số biện pháp chủ yếu, công tác thuỷ lợi và hoàn chỉnh thuỷ nông được đặt lên vị trí số một; tăng cường đưa giống lúa mới và các loại giống cây trồng có năng suất cao thay thế các giống  năng suất thấp; đẩy mạnh các biện pháp làm phân bón, tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất đi đôi việc tổ chức lại sản xuất, đẩy mạnh việc hợp nhất hợp tác xã toàn xã và liên thôn; kiên quyết cải tạo tiểu thương đưa sang sản xuất; xoá bỏ thị trường tự do về lương thực, nông sản, thực phẩm...

2. Lãnh đạo phát triển kinh tế- xã hội

             Trong điều kiện phải đối phó với khó khăn do thời tiết diễn biến phức tạp, Đảng bộ huyện tập trung nỗ lực phát triển sản xuất nông nghiệp. Cuối năm 1975, nắng hạn gay gắt, thiếu nước, tiến độ làm mùa chậm. Thực hiện tháng thi đua “Hai mũi tiến công mừng miền Nam toàn thắng”; ngày 20/6/1975, Huyện uỷ, Uỷ ban hành chính huyện phát động cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân tham gia thực hiện tạo nên phong trào cách mạng mạnh mẽ sâu rộng. Số lượng lao động hàng ngày tới gần 85% tổng số lao động toàn huyện. Nhiều địa phương tổ chức tát nước chống hạn suốt ngày đêm; các xã Hương Lạc, Đào Mỹ, Mỹ Hà... có nơi phải tát nước qua 9 bậc cho một diện tích. Do vậy, so với vụ mùa trước, tốc độ cày bừa tăng nhanh gấp 2 lần; đắp bờ vùng bờ thửa cho 5.082 ha ruộng, với khối lượng đào đắp 31.508 m3 đất. Lực lượng xung kích là thanh niên và dân quân tự vệ. Kết quả: cấy được 8.029 ha lúa, đạt 96,7% kế hoạch (KH) đề ra.

Năm 1976, toàn huyện đạt năng suất 5,1 tấn/ha trên chân ruộng 2 vụ lúa, đánh dấu kết quả của một hướng đi mới. Tổng sản lượng lúa là 31.874 tấn, bằng 93,9% KH. Đây là năm đạt tổng sản lượng lúa cao nhất trong vòng 17 năm. Tổng sản lượng lương thực (gồm cả màu quy thóc) năm 1976 đạt 36.650 tấn, tăng 2.960 tấn so với năm 1975. Đạt bình quân 360 kg thóc/người.

Đảng bộ huyện chú trọng phát triển diện tích trồng màu. Năm 1975, toàn huyện trồng được 961 ha cây màu thực phẩm, trong đó diện tích đỗ các loại phát triển nhanh, tăng 315% so với năm 1974. Diện tích trồng vụ đông đạt 1.506,3 ha, tăng 4% so với năm 1974. Xã trồng cây vụ đông đạt hiệu quả là Tiên Giang, Liệt Hạ, Mỹ Quang, Vĩnh Ninh, Tiến Mỹ, Tân Trung. Cây khoai tây được phát triển nhanh nhất; từ 68,4 ha năm 1974, tăng lên 168,7 ha. Diện tích khoai lang đông đã đạt 997,6 ha. Năm 1976, diện tích trồng màu lương thực tiếp tục tăng. Khoai đạt 105,3% KH, tăng 12% so với năm 1975; ngô đạt 123% KH (tăng 27%), sắn đạt 93,5% KH (tăng 3,6%)... Tổng sản lượng màu lương thực 13.933 tấn.

Cây công nghiệp phát triển theo hướng tập trung chuyên canh. Năm 1975 trồng được 1.475,9 ha so với năm 1974 tăng 38,9 ha. Tổng sản lượng tăng lên 957,7 tấn; trong đó lạc chiếm 57%, thuốc lá 33%, đậu tương 10%. Năm 1976, đậu tương, thuốc lá, ngô tăng gấp 2 lần; lạc tăng 1,5 lần. Diện tích lạc là 322,5 ha; đậu tương 139,7 ha; ngô 119,8 ha.Thuốc lá trồng được 463,5 ha, 7 hợp tác xã hoàn thành kế hoạch là Liệt Hạ, Tiên Sơn, Trường Giang, Bình An, Phúc Mãn, Mãn Triều, Tân Hoa. Lạng Giang mở thêm vụ đậu tương hè để tăng nguồn nông sản xuất khẩu và cải tạo đất. Năm 1976, trồng được 105 ha đậu tương hè, trở thành huyện trồng nhiều nhất tỉnh.

Năm 1977, trên cơ sở những kết quả đạt được trong trồng đậu tương hè, Ty Nông nghiệp tiến hành thực nghiệm cây đậu tương hè ở 6 cơ sở trong tỉnh với tổng diện tích 124 ha, riêng Lạng Giang trồng thực nghiệm 82 ha tại Tiên Lục và hai phụ điểm Tân Hưng, An Hà. Vụ đậu tương hè 1977 đạt 236 ha (gấp 2 lần 1976), giữ vững là huyện trồng đậu tương hè nhiều nhất tỉnh. Tính cả đậu tương vụ xuân, Lạng Giang trồng được 465 ha. Phong trào làm phân bón phát triển, năm 1976 toàn huyện đã làm được hàng trăm tấn phân bón các loại. Phân hữu cơ bón cho lúa đạt bình quân 6 tấn/1ha.

Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XI (Từ ngày 25- 31/5/1977) phấn đấu thực hiện mục tiêu lương thực năm 1977 đạt sản lượng 4 vạn tấn; làm nghĩa vụ với Nhà nước 6.500 tấn, đảm bảo bình quân 25 kg/người/tháng; năm 1978 đạt 4,4 vạn tấn và năm 1980 đạt 5 vạn tấn. Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XI, các tổ chức Đảng, chính quyền, hợp tác xã và nhân dân trong huyện tập trung mọi nỗ lực vào phát triển sản xuất nông nghiệp. Vụ lúa chiêm năm 1977, năng suất bình quân chỉ đạt 18,71 tạ/ha. Có 8 hợp tác xã đạt năng suất 20 ta/ha trở lên; xã Tân Dĩnh đạt năng suất cao nhất (23,66 tạ/ha).

Trước tình hình khó khăn (vụ mùa sớm bị hạn hán và sâu phá hoại mạ nghiêm trọng), huyện chỉ đạo các đơn vị bằng mọi cách phải đảm bảo được nước cho cây trồng; đưa 1,7 tấn phân bón lót cho 1 ha và cấy đúng kỹ thuật. Đồng thời, tổ chức 3 hợp tác xã Tiên Lục, Mỹ Thái, Tân Thanh đưa 2.500 lao động, 500 trâu bò đến giúp xã Phi Mô- đơn vị làm mùa chậm nhất huyện. Lần đầu tiên Lạng Giang đã thực hiện việc điều hành lao động trên phạm vi toàn huyện thu được kết quả tốt. Do sự chỉ đạo sâu sát, đến giữa tháng 8, toàn huyện đã cấy được 8.251,8 ha lúa mùa, bằng 100,6% chỉ tiêu KH.

Cùng với chiến dịch chống hạn cứu lúa, huyện phát động đợt thi đua đồng khởi diệt sâu, bảo vệ mùa màng. Trong 1 tuần giữa tháng 9, đã có 92.000 lượt người làm 1.138 lượt ngọn đèn bẫy, diệt 12 triệu lượt bướm, bảo vệ mùa màng. Trước tình hình 6 xã vùng cao của huyện bị dịch bọ xít phá lúa nghiêm trọng trên diện tích 509 ha, có những thửa ruộng phải cắt bỏ lúa, huyện lập Ban Chỉ huy chiến dịch diệt bọ xít. Trong chiến dịch đã huy động 18.000 lượt người (cả nhân dân và bộ đội) ra quân bắt được 7 tấn bọ xít. Đồng thời, huyện tập trung 53 bình bơm thuốc trừ sâu với gần 100 công nhân phun liên tục trong nhiều ngày. Do vậy, đã đẩy lùi nạn sâu bướm và bọ xít phá hoại lúa.

Với tinh thần trách nhiệm, hưởng ứng cuộc vận động “Vì cả nước, với cả nước”, Lạng Giang đã làm nghĩa vụ lương thực năm 1977 là 5.050 tấn, vượt 4% KH; thực phẩm 451 tấn, đạt 100% KH. Với tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách, Lạng Giang tiết kiệm được 59 tấn thóc, 5 tấn gạo giúp đỡ đồng bào bị lũ lụt. Thực hiện cuộc vận động “Vì cả nước, với cả nước”, năm 1978, Lạng Giang đã đưa hàng ngàn lao động đi xây dựng biên giới phía Bắc; đưa 2.000 người vào trung đoàn cơ động của huyện, đồng thời vẫn hoàn thành kênh đào Bảo Sơn.

Lực lượng lao động trong nông nghiệp được phân loại A, B, C; từng loại được sắp xếp công việc hợp lý. Các ngành nghề được tổ chức theo hướng chuyên môn hóa. Mỗi công việc đều có định mức công điểm, chi phí, kỹ thuật và được nghiệm thu hàng ngày.

Tổ chức lại sản xuất: triển khai giao đất, giao rừng cho hợp tác xã sản xuất- kinh doanh; kinh tế đồi rừng được tổ chức kinh doanh theo hướng nông- lâm kết hợp. Thực hiện cải tiến quản lý tài vụ, các hợp tác xã tiến hành lập kế hoạch tài chính, có nội dung chi tiêu, thực hành tiết kiệm, đảm bảo hiệu quả đồng vốn; các chứng từ thu chi thực hiện ghi chép, vào sổ nhật ký; kế hoạch tài chính này được thông qua đại hội xã viên. Các hợp tác xã tổ chức các cơ sở kỹ thuật, đội ngũ cán bộ khoa học- kỹ thuật được sử dụng hợp lý; nhiều hợp tác xã cử người về trường Trung cấp Nông nghiệp tỉnh để đào tạo nâng cao trình độ. Ngành tài chính tích cực khai thác và quản lý nguồn thu, điều tiết kịp thời ngân sách cho cơ sở. Năm 1979, năm đầu tiên Lạng Giang thực hiện cân bằng thu chi ngân sách...

Kết quả cuộc vận động tổ chức lại sản xuất, cải tiến lao động và quản lý hợp tác xã: 17 hợp tác xã xây dựng được định mức lao động, 18 hợp tác xã xác định được phương hướng sản xuất, 19 hợp tác xã thực hiện tốt công tác tài chính kế toán. Trong đó, các hợp tác xã quy mô toàn xã có giá trị ngày công năm 1978 đều cao hơn những năm trước từ 3% đến 180%. Hợp tác xã An Hà là Lá cờ đầu về công tác quản lý, đơn vị duy nhất của huyện đạt “3 mục tiêu” trong quản lý nông nghiệp năm 1978.

Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XII (Tháng 10/1979) xác định phương hướng nhiệm vụ 2 năm 1980- 1981 là: “Ra sức phát triển sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Tận dụng mọi tiềm năng đất đai, mở rộng diện tích gieo trồng; phấn đấu tăng nhanh sản lượng lương thực, phát triển chăn nuôi và làm hàng xuất khẩu. Nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng. Tích cực cải tiến công tác quản lý hợp tác xã. Ra sức xây dựng lực lượng vũ trang đảm bảo sẵn sàng chiến đấu, giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội”.

3. Một số kết quả phát triển kinh tế- xã hội  giai đoạn 1976- 1980

Tổng diện tích gieo trồng tăng hơn 5 năm trước 14.646 ha; trong đó lúa tăng 3.582 ha. Giá trị tổng sản lượng lương thực 5 năm tăng 3,6%; sản lượng lương thực tăng 26.336 tấn, màu quy thóc tăng 18.229 tấn. Bình quân lương thực đầu người năm 1980 đạt 280 kg (bình quân chung của tỉnh là 264 kg). Từ năm 1979, Lạng Giang đã có hàng nông sản, thực phẩm xuất khẩu; hai năm 1979- 1980 đạt 1 triệu 557 nghìn đồng. Chăn nuôi có những bước tiến mới. Trong 5 năm, đàn lợn tăng từ 6.494 con (năm 1975) lên 41.894 con (năm 1980), tăng bình quân hằng năm là 4%; bình quân mỗi năm tăng 284 tấn lợn thịt. Đàn trâu tăng từ 9.604 con lên 9.951 con. Đàn gia cầm từ 249.000 con lên 251.000 con. Diện tích nuôi thả cá từ 395 ha lên 453 ha. Huyện tập trung khai thác diện tích đồi trọc, phát triển cây đặc sản. Năm 1975, toàn huyện trồng được 378,3 ha dứa, trong đó diện tích được thu hoạch là 260 ha. Những hợp tác xã đạt năng suất dứa cao là Bắc Thịnh, Mỹ Quang, Tân Trung (đạt 1,2 tấn/ha). Tiếp tục xây dựng hợp tác xã. Năm 1975, toàn huyện kết nạp thêm 616 hộ vào hợp tác xã, đưa số hộ làm ăn tập thể lên 98,9% tổng số hộ nông nghiệp; 80% số hợp tác xã có từ 100 ha đất canh tác trở lên.

Triển khai Nghị quyết số 03/NQ-UB, ngày 11/8/1976 của UBND tỉnh Hà Bắc về chỉ đạo tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 61- CP của Hội đồng Chính phủ, về việc “Tổ chức lại sản xuất, cải tiến một bước quản lý nông nghiệp, lâm nghiệp từ cơ sở theo hướng tiến lên sản xuất lớn XHCN”. Kết quả bước đầu của phong trào hợp tác hoá là năm 1976, Lạng Giang đã đạt mục tiêu 5,1 tấn thóc/ha ở chân ruộng 2 vụ, đánh dấu kết quả của một hướng đi mới. Cuộc vận động tổ chức lại sản xuất làm điểm ở xã An Hà đạt hiệu quả. Nhờ làm tốt công tác quản lý, sản lượng lương thực tăng từ 695 tấn (năm 1965) lên 1.713 tấn; bình quân lương thực đầu người từ 260 kg lên 532 kg.

Sản xuất cây công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; phong trào làm thuỷ lợi, hoàn chỉnh thuỷ nông; công tác tài chính, ngân hàng; giao thông vận tải; công tác văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục thể thao; an ninh chính trị thường xuyên được Đảng bộ huyện quan tâm, không ngừng phát triển nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá, giáo dục và đời sống nhân dân.

Huyện thường xuyên chú trọng công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Quan tâm công tác xây dựng Đảng về ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức; đổi mới lề lối, phong cách làm việc, thống nhất ý chí trên cơ sở đường lối chính trị, nhất là sau khi thực hiện tự phê bình và phê bình trong học tập Nghị quyết số 23 của Trung ương Đảng. Do làm tốt công tác cán bộ, gắn công tác tổ chức với