02:24 ICT Thứ bảy, 18/11/2017

Trang nhất » Tin Tức » Dạy và học » Kinh nghiệm dạy học

Tham luận thay đổi phương pháp dạy để phù hợp với việc đổi mới thi hiện nay ở môn toán

Thứ ba - 30/09/2014 23:51
Kính thưa các đồng chí trong hội đồng nhà trường.Theo sự phân công của BGH nhà trường tôi xin được tham luận về nội dung thay đổi phương pháp dạy để phù hợp với thi hiện nay ở môn toán.
Vâng! Kính thưa tất cả các đồng chí nói về đổi mới phương pháp dạy học thì đã được thực hiện từ rất lâu rồi.Tuy nhiên để thay đổi phương pháp dạy học theo hướng đổi mới chưa thực sự được toàn diện,liên tục và hiệu quả bởi vì từ trước đến nay chúng ta đều dựa vào cách thức thi cử để thay đổi cách dạy cho các em được phù hợp.Chính vì điều đó hiện nay BGD đang thực hiện đổi mới thi cử để hướng tới mục tiêu  đổi mới phương pháp dạy và học.Chỉ có việc đổi mới trong thi cử mới tác động mạnh đến việc đổi mới phương pháp dạy học phù hợp.
Một trong các đổi mới thi hiện nay là đổi mới trong cách ra đề thi.Tuy nhiên hiện nay thì trong năm học này BGD vẫn chưa đưa ra cấu trúc cụ thể của đề thi.Nhưng  dựa vào cấu trúc đề thi năm 2014 và theo BTBGD trả lời ngày 23/9/2014 đó là đề thi không còn yêu cầu học sinh học thuộc lòng mà theo hướng đòi hỏi vận dụng kiến thức tổng hợp qua đó phát triển năng lực ,phẩm chất của học sinh.Bên cạnh đó đề thi có nhiều câu hỏi mở,câu hỏi gắn liền với thực tiễn.Với thay đổi cách ra đề thi như hiện nay thì đối với môn toán sự thay đổi không nhiều so với những năm trước.Bởi vì việc phát huy năng lực của học sinh nói chung và trong việc học môn toán nói riêng đã được các thầy cô thay đổi về cơ bản từ những năm trước.Tuy nhiên tiến dần đến đánh giá năng lực của học sinh trong Chương trình PISA: Là những kiến thức, kỹ năng thiết yếu chuẩn bị cho cuộc sống ở một xã hội hiện đại.Thì cần phải có rất nhiều thời gian thì mới có thể cập được.
*)Các lĩnh vực năng lực phổ thông được sử dụng trong PISA bao gồm:
- Năng lực toán học (mathematic literacy)
- Năng lực đọc hiểu (reading literacy)
- Năng lực khoa học (science literacy)
- Kĩ năng giải quyết vấn đề (problem solving)
+)Năng lực toán học được thể hiện ở 3 nhóm (cấp độ) :
- Nhóm 1: Tái hiện (lặp lại).
- Nhóm 2: Kết nối và tích hợp.
- Nhóm 3: Tư duy toán học; khái quát hóa và nắm được những tri thức toán học ẩn dấu bên
trong các tình huống và các sự kiện.Các bối cảnh, tình huống để áp dụng toán học có thể liên quan tới những vấn đề của cuộc sống cá nhân hàng ngày, những vấn đề của cộng đồng và của toàn cầu.
+)Kĩ năng giải quyết vấn đề (problem solving) Là khả năng sử dụng kiến thức của một cá nhân trong quá trình nhận thức và giải quyết các vấn đề thực tế. Thông qua những tình huống rèn luyện trí óc, yêu cầu học sinh phải biết vận dụng, phối hợp các năng lực đọc hiểu, làm toán và khoa học để đưa ra các giải pháp thực hiện.
*)Và vấn đề dạy học gắn với thực tiễn môn Toán cũng chưa được chú trọng nhiều bởi vì trong đề thi trước đây thuần túy là toán nên các bài toán thực tiễn ít được chú trọng. Vì vậy theo hướng thay đổi đưa thêm bài toán thực tiễn vào đề thi thì trong quá trình dạy môn toán cũng cần chú trọng đến những bài tập loại này. Nếu vận dụng tư tưởng của Pisa dạy học gắn với thực tiễn thông qua nội dung Xác suất và Thống kê cho học sinh lớp 10, lớp 11 giúp giáo viên – học sinh nhận thức rõ tầm quan trọng của việc ứng dụng lý thuyết toán trong thực tiễn, đồng thời góp phần đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá, đưa ra cách tiếp cận mới về dạy – học ở trường phổ thông.Vì vậy khi dạy chương này thì nên
-Khai thác triệt để mọi khả năng gợi động cơ từ các tình huống trong thực tiễn. Việc khai thác các ví dụ thực tế trước khi trình bày kiến thức cũng là thực hiện gợi động cơ mở đầu bằng cách xuất phát từ nội dung thực tế. Rõ ràng cách gợi động cơ này dễ hấp dẫn, lôi cuốn học sinh, tạo điều kiện để các em thực hiện tốt các hoạt động kiến tạo tri thức trong quá trình học tập về sau.
- Tăng cường hoạt động củng cố theo hướng khai thác các bài toán thực tiễn
-Tăng cường các hoạt động thực hành, qua đó rèn luyện các kĩ năng thực hành Toán học gần gũi với thực tiễn
- Bổ sung những ví dụ, bài tập có nội dung thực tế . Xây dựng nhiều tính huống dạy học gắn với thực tiễn
-Hiện nay việc đưa các bài toán có nội dung thực tiễn vào dạy học thìsố lượng các bài tập đã có sẵn chưa thật nhiều và đa dạng. Bởi vậy, việc có một hệ thống bài đưa vào các bài toán gần gũi với thực tế nhằm kiểm tra, đánh giá năng lực ứng dụng và mức độ thông hiểu các kiến thức đã học là rất cần thiết
 -Trong các đề kiểm tra cũng nên đưa vào các bài tập gần gũi với đời sống thực tế. Qua đó sẽ đánh giá được được sâu sắc hơn sự thông hiểu bài học của học sinh. Và hơn thế nữa nó sẽ góp phần rèn luyện ý thức toán học hóa các tình huống trong thực tế và giáo dục văn hóa Toán học cho học sinh.
              Theo định hướng phân bố các câu trong đề thi là 20 phần trăm dễ,60 phần trăm trung bình và khá bao gồm 4 mức độ thông hiểu, nhận biết, vận dụng thấp,vận dụng cao và 20 phần trăm khó thì đối với bộ môn toán các đồng chí cũng  thấy đã có những điều chỉnh, cập nhật mới so với những năm vừa qua có những câu bất di bất dịch về khung nội dung tuy nhiên cũng có những câu mà khung nội dung đã được thay đổi cụ thể
Câu I(2 điểm) Gồm hai phần
a)Khảo sát sự biến thiên và vẽ đồ thị của hàm số.
b) Các bài toán liên quan đến ứng dụng của đạo hàm và đồ thị hàm số: Chiều biến thiên của hàm số,cực trị của hàm số,giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất của hàm số,tiếp tuyến,tiệm cận của đồ thị hàm số( Tiệm cận đứng và tiệm cận ngang của đồ thị hàm số)Tìm trên đồ thị hàm số những điểm có tính chất cho trước,tương giao giữa hai đồ thị( Một đồ thị và một đường thẳng)…
Với câu này thì các đồng chí cũng đã thấy là phần a)là phần dễ học sinh làm tôt(20% dễ).
Tuy nhiên phần b) Tôi nghĩ là có nhiều học sinh khá giỏi vẫn bị hỏng câu này câu này nằm trong 60% trung bình khá với mức độ vận dụng chính vì thế khi dạy câu b) chúng ta phải giúp học sinh hiểu được sự logic giữa các vấn đề có liên quan đồng thời nắm rõ bản chất của từng vấn đề để các em có năng lực tổng hợp xử lý một cách linh hoạt nhất.Chẳng hạn như khi dạy phần cực trị của hàm số theo tôi sau khi giúp các em hiểu rõ lý thuyết cực trị vận dụng các quy tắc tính cực trị của hàm số nên dạy cho các em cự trị của từng hàm đó là cực trị của hàm số bậc 3 và cực trị hàm số bậc 4.Với cực trị hàm số bậc 3 thì giúp các em nắm được các vấn đề như điều kiện để hàm số có hai cực trị thỏa mãn điều kiện cho trước thực ra sẽ quy về bài toán của phương trình bậc hai và định lý Viet,thứ hai là học sinh sau khi biết cách viết phương trình đường thẳng đi qua hai điểm cực trị của hàm số thì thực chất dẫn đến bài toán về đường thẳng có tham số …như vậy phần này ngay từ khi học lớp 10 học sinh phải học kỹ phần kiến thức liên quan đến phương trinhh bậc hai và định lý viet cũng như phần phương trình đường thẳng có tham số thật kỹ học sinh sẽ linh hoạt trong việc sử lý bài toán. Với cực trị của hàm số bậc 4 trùng phương thì bản chất là sau khi tìm được điều kiện hàm số có ba điểm cực trị rồi thì ba điểm cực trị của đồ thị hàm số luôn tạo thành tam giác cân vì thế đến đây học sinh nắm chắc các bài toán trong tam giác cân như quan hệ giữa độ dài cạnh và góc cũng như diện tích, bán kính đường tròn nội ngoại tiếp …thì sẽ linh hoạt và có khả năng xử lý tốt bài toán.
Hay khi dạy về bài toán tương giao  của đồ thị hàm số.thì đối với hàm số bậc 3 với 3 cách giải quyết đó là pp đại số,pp hàm số và pp sử dụng dạng của đồ thị hàm số thì với phương pháp đại số bản chất quy về phương trình bậc hai và định lý viet
Pp hàm số là dẫn đến bài toán tương giao khác học sinh cần thành thạo việc lập bảng biến thiên của hàm số.Pp dạng đồ thị hàm số bản chất là dẫn đến bài toán cực trị chính vì thế sau khi dạy xong phần cực trị và phần tương giao của đồ thị hàm số bậc 3 nên hỏi xoay ngược xuôi các vấn đề chẳng hạn tìm điều kiện hàm số có hai điểm cực trị và hai giá trị cực trị trái dấu nhau ngoài cách làm đã sử dụng trong phần cực trị thì học sinh phải linh hoạt sử dụng bài toán tương giao vào để làm bài toán này rất thích hợp khi mà giải quyết trực tiếp rất phức tạp nhưng sử dụng bài toán tương giao thuận lợi có thể đưa về bài toán phương trình bậc hai bên cạnh đó cũng phải cho học sinh thấy sai lầm có thể mắc trong quá trình xử lý bài toán…
Tóm lại câu 1b/ kiến thức liên quan khá rộng nên giúp học sinh năm chắc bản chất vấn đề để học sinh linh hoạt trong việc giải quyết bài toán.
Câu 2(1 điểm) -Công thức lượng giác,phương trình lượng giác
Phương trình bất phương trình mũ lôgarit
Câu 3(1 điểm) Nguyên hàm,tích phân và ứng dụng của tích phân tính diện tích hình phẳng,thể tích khối tròn xoay
Theo như các đồng chí thấy với hai câu hỏi này mức độ nội dung phù hợp với đề thi tốt nghiệp nó nằm trong 20% dễ và trong 60% với mức độ  thông hiểu, nhận biết chính vì thế với hai câu hỏi này chỉ cần dạy các em các kiến thức cơ bản nhất, các công thức cơ bản và vận dụng linh hoạt các công thức nhận biết tốt các dạng đặc trưng.Tuy nhiên với hai câu này cần rèn luyện kỹ năng làm bài,trình bày bài chuẩn, tính toán chính xác (Phần này dễ sai về tính toán) và trong đề ôn cũng nên chia nhỏ câu hỏi…Bởi vì theo tôi nghĩ là đề thi dùng để xét tốt nghiệp và đại học thì phần phương trình mũ và logarit trong đề sẽ có thể cho trong câu hai với hai phần đó là giải phương trình lượng giác và phương trinh mũ và logarit mức độ dễ giống như năm 2014 câu 4 đã được trẻ nhỏ thành 2 phần.
Câu 4(1 điểm)
-Số phức
-Tổ hợp xác suất thống kê
Câu này trước đây nằm ở câu 9 và chỉ hỏi một trong hai phần bây giờ theo đổi mới thì đề ra cả hai phần vì vậy khi ra đề cho các em ôn luyện ra cả hai phần mỗi phần được 0,5 đ.Với quan điểm ra đề thi mới như đã nói trên trong câu này phần tổ hợp xác suất thống kê đã được quan tâm nhiều mấy năm trước câu này chủ yếu ra phần số phức.Với câu hỏi này thì học sinh khá giỏi không gặp khó khăn tuy nhiên với học sinh tb hoặc học sinh tb khá có thể mắc sai lầm trong câu tổ hợp xác suất …Vì vậy theo như tôi đã trình bày ở trên khi dạy phần tổ hợp xác suất nên cho học sinh một số bẫy mà học sinh dễ mắc khi giải quyết bài toán để học sinh tránh được sai lầm mắc phải. Tóm lại câu này nên dạy học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản chú ý rèn cách trình bày và kỹ năng tính toán tốt và giúp học sinh sửa sai lầm dễ mắc.Ngoài ra trong quá trình dạy phần tổ hợp xác suất thống kê nên đưa nhiều bài toán thực tiễn có thể hiểu là bài toán mà trong đó có chứa nội dung liên quan đến thực tiễn
(có thể trong bài toán có gắn với các sự vật, hiện tượng của cuộc sống xung quanh, hoặc có thể bài toán là một vấn đề thực tiễn cần giải quyết).Có thể chia bài toán thực tiễn làm hai loại (theo hai mức độ) như sau:
- Mức độ 1: (Bài toán phỏng thực tiễn) Là bài toán chưa thực sự chứa đựng một vấn đề của thực
tiễn và do thực tiễn có nhu cầu giải quyết, mà trong đó mới chỉ đề cập đến đối tượng của thực tiễn.
- Mức độ 2: Là bài toán trong đó vừa đề cập đến đối tượng của thực tiễn, vừa là một vấn đề gặp
trong thực tiễn, giải được bài toán là giải quyết được vấn đề cho xã hội và điều này ít nhiều ứng dụng được hoặc có lợi ích cho cuộc sống.Tuy nhiên do một số nội dung kiến thức ở phổ thông chưa sâu, nhất là phần Xác suất (lớp 11) và Thống kê (lớp 10) lượng kiến thức đưa ra ít nên những ứng dụng của kiến thức đó trong thực tiễn thường chỉ gặp ở mức độ 1.Do ngày càng nhận thức rõ tầm quan trọng của Xác suất và Thống kê trong xã hội hiện đại là rất cần thiết nên trong đề thi mấy năm gần đây đã đưa nội dung này nhiều hơn và thường xuyên hơn, vì vậytrong quá trình dạy học, cũng có thể tìm tòi được nhiều ví dụ trong thực tiễn có sử dụng những kiến thức về Xác suất và Thống kê để ra bài tập cho các em
Câu 5(1 điểm) Phương pháp tọa độ trong không gian
-Xác định tọa độ của điểm,tọa độ của vecto
-Phương trình đường thẳng,mặt phẳng,mặt cầu
Câu này thì với học sinh trung bình sẽ không gặp khó khăn trong việc giải quyết.Tuy nhiên cần rèn tốt cho học sinh kỹ năng trình bày bài
Câu 6(1 điểm)Hình học không gian tổng hợp
Quan hệ song song,quan hệ vuông góc của đường thẳng,mặt phẳng diện tích xung quanh của hình nón tròn xoay, hình trụ tròn xoay ,thể tích khối trụ ,nón tròn xoay tính diện tích mặt cầu và thể tích khối cầu.
Câu này trong đề thi là câu phân loại  với học sinh với mức độ vận dụng .Để giúp học sinh làm tốt câu này thì ngay từ đầu học sinh được tiếp cận hình học không gian lớp 11 là cực kỳ quan trọng để học sinh có thể học tốt phần hình học không gian này thì việc giúp các em ngay từ đầu yêu thích phần học này và các dạng bài tập về quan hệ vuông góc,xác định góc,khoảng cách phải cho các em luyện thành thạo.Với câu hỏi này thì khi học sinh được làm nhiều luyện nhiều thì học sinh làm sẽ làm tốt  và không gặp khó khăn  
Câu 7(1 điểm) Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng
-Xác định tọa độ của điểm,tọa độ của vecto
-ViếT phương trình đường thẳng, đường tròn elip
-Tính góc,khoảng cách…
Câu này nằm ở mức độ phân loại học sinh đây là câu hỏi khó với mức độ vận dụng cao,tôi nghĩ là cái khó của câu này không phải là kiến thức trong phần phương pháp tọa độ trong phẳng mà caí khó chính là tư duy của học sinh về phần kiến thức hình học phẳng của lớp 9 học sinh phải có tư duy được tốt hình học phẳng lớp 9 để sử dụng chứng minh bài toán hình phẳng thuần túy sau đó mới vận dụng được kiến thức hình học tọa độ  phẳng vào.Chính vì vậy dạy phần này theo tôi nên ngoài việc dạy kỹ các dạng bài tập cơ bản trong phương pháp tọa độ phẳng về đường thẳng,đường tròn elip thì cố gắng sử dụng được các bài toán hình phẳng vào khi ra đề cho học sinh và có thể sử dụng các bài toán chưng minh của hình học 9 để ra đề mục đích tăng cường phát huy tốt hơn nữa tư duy vận dụng kiến thức ở mức độ cao của học sinh.
Câu 8(1 điểm) Phương trình,bất phương trình,hệ phương trình đề cũ là câu 3
Đây là câu hỏi nằm ở mức độ phân loại cho học sinh đây là câu hỏi khó đòi hỏi học sinh phải có tư duy và kiến thức tổng hợp tốt để làm tốt câu này thì học sinh phải nắm được tất cả các dạng thường gặp biết nhận dạng tốt và  để nhận dạng tốt các câu này thì theo tôi với đối tượng học sinh khá giỏi ngoài việc dạy các dạng bài thì cần cho học sinh hiểu rõ bản chất sinh ra dạng bài tập đó và hướng dẫn các em có thể tự ra đề được và tôi cũng vẫn làm việc này.Với câu hỏi này cứ phải cho các em va chạm xử lý và giải quyết thật nhiều và đa dạng bài tập thoe một hệ thống thì với học sinh khá giỏi mới làm tốt được
Câu 9(1 điểm)
-Bất đẳng thức, cực trị của biểu thức đại số
-Bài toán tổng hợp
Đây là câu hỏi khó(câu điểm 10) rất ít học sinh làm được đề cũ rơi vào câu 6
Câu này đối với học sinh giỏi cần phải có quá trình tích lũy giải bất đẳng thức tương đối nhiều từ đó mới có thể nhận dạng tiếp cận và định hướng được bài toán.Câu này chỉ dạy trong ôn học sinh giỏi ôn thi đại học dạy ít.
Với việc phân tích từng câu trong đề thi đại học hiện nay và theo hướng đổi mới thi 2 trong 1 của năm nay thì đối với bộ môn toán theo tôi với các câu nằm trong 7 điểm từ câu 1 đến câu 6 cần phải rèn được cho các em không để mất 1 chút điểm nào.Vì vậy ngoài việc dạy học sinh nắm chắc và hiểu rõ bản chất và sự logic  từng dạng từng phần cần hết sức chú ý rèn cho học sinh kỹ năng trình bày và kỹ năng tính toán chuẩn
Với học sinh khá giỏi ngoài 7điểm trên cần chuẩn thì phải dạy cho các em tư duy tốt câu 7 và câu 8 và phải cho ôn luyện hai câu nay thật nhiều.Đối với học sinh khá giỏi thì sau mỗi dạng tôi thường cho các em thấy được cách người ta nghĩ đề ra được đề bài dạng đó và yêu cầu các em tự ra được đề bài những phần đó tôi có khá nhiều bài tập do học sinh tự ra đề.
Tóm lại dạy cho học sinh phù hợp với cách thi như hiện nay ngoài việc rèn các kỹ năng cần thiết cho việc làm một bài thi tốt phải hướng dẫn được các em cách mở khóa chứ không mở giùm khóa cho các em.Giáo viên chỉ là người nêu vấn đề,khuynh hướng để học sinh góp ý và giải quyết vấn đề.
Kính thưa các đồng chí trên đây là một vài suy nghĩ của tôi về việc thay đổi cách dạy phù hợp với thi hiện nay cám ơn các đồng chí lắng nghe. Chúc hội nghị thành công tốt đẹp.

Tác giả bài viết: ĐỖ THỊ BÍCH HƯỜNG

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn